4 Chuyện Nghiệp Quật Có Thật Khiến Người Nghe Lạnh Sống Lưng

 

[BẢN CHUYỂN THỂ TRUYỆN AUDIO ÂM DƯƠNG PHỦ]


--- CÂU TRUYỆN THỨ NHẤT: CĂN NHÀ TẠI HỌA VÀ OÁN KHÍ CHÁY MỘ ---


(Lời mở đầu)

Ở đời, đất có thổ công, sông có hà bá, làm việc gì đụng đến tâm linh thổ địa cũng phải biết kính sợ cõi âm. Đất đai dẫu là của mình, tiền bạc dẫu do tay mình làm ra, nhưng nếu cậy sức cậy giàu mà coi thường lời kiêng kỵ của tiền nhân, vội vã phá cũ dựng mới khi vận hạn chưa qua, thì cái nhà dựng lên không phải là nơi che mưa che nắng, mà chính là cái huyệt lạnh chiêu dụ tai ương. Phước báu tổ tiên gánh đỡ cũng có ngày cạn kiệt, đến khi nghiệp quật trút xuống thì kẻ bạc phước phải trả giá bằng chính mạng sống của người thân mình.


Mấy mươi năm về trước, ở vùng sông nước xóm Rạch Rồng thuộc hạt Đầm Dơi, gia đình ông Hai Lỡ vốn không phải dân bản xứ mà từ cõi trên dời xuống khai hoang mở đất. Thời ấy, ông bà sơ của anh Minh phải chịu bao gian khổ, phát hoang bụi rậm, đào kinh xẻ rãnh làm ruộng tích góp từng đồng mới mua được hàng mẫu đất để lại cho đời ông bà cố. Đến đời ông bà cố anh Minh, nhờ chịu khó làm ăn nên cơ ngơi càng thêm đặng, lại tịnh đao mua thêm ruộng vườn rồi cất lên một căn nhà ba gian gỗ lim rộng lớn, bề thế nhất vùng. Căn nhà ấy là nơi trú ngụ của mấy thế hệ, từ thời ông bà cố truyền qua thời ông bà Hai Lỡ, rồi tới đời ba của anh Minh kéo dài đến tận những năm 2009 - 2010.


Dẫu là căn nhà cổ bề thế, nhưng trải qua mấy thời kỳ bom đạn chiến tranh, mái ngói tường đao cũng bị hư hại nhiều phần. Mấy đời gánh vác, ông bà cố rồi ông bà Hai Lỡ đã bao lần tô dán sửa sang. Đến tầm năm 2010, trải qua mấy mươi năm mưa nắng, căn nhà ba gian đã xập xệ, cột kèo mục mọt nặng nề. Đúng lúc đó, việc làm ăn buôn bán của ông Hai Lỡ lại gặp thời phất lên như diều gặp gió, tiền bạc rủ nhau đổ về. Thấy nhà cũ hư hại, ông Hai Lỡ liền bàn với vợ muốn đập bỏ hoàn toàn căn nhà ba gian cổ xưa để cất lên một ngôi biệt thự thái khang trang, rộng rãi cho con cháu ở cho sướng thân.


Nghe chồng bàn, bà Hai Lỡ gật đầu đồng ý nhưng vốn là người tôn kính thần linh âm cảnh, bà lo lắng khuyên ông: "Ông muốn cất nhà mới tôi không cản, nhưng đất này là đất cổ, mình phải đi tìm thầy coi tuổi xem có hợp thời cất nhà hay không. Lỡ như không hợp tuổi mà động thổ thì nguy hại lắm ông ơi!"


Vừa nghe vợ nhắc đến chuyện coi thầy tâm linh, ông Hai Lỡ vốn tính gàn dở, xưa nay chưa từng tin chuyện ma thần, liền trợn mắt cự cãi sa xả vào mặt bà Hai: "Bà đúng là rảnh chuyện! Nhà của tôi, tiền của tôi làm ra thì tôi cất, việc gì phải đi nghe lời mấy thằng cha thầy bói nhảm nhí! Lỡ nó phán mười năm nữa tôi mới được tuổi, chẳng lẽ tôi phải chui rúc trong cái nhà nát này mười năm nữa sao? Bà dẹp ngay cái kiểu bàn lùi đó đi!"


Nhưng bà Hai Lỡ vẫn kiên trì năn nỉ, hết lời van xin chồng vì sự an nguy của gia đình. Kêu hoài kêu mãi, cuối cùng ông Hai Lỡ cũng hằn hộc lấy xe chở bà đến nhà Thầy Năm Cần - một vị thầy cúng có tiếng trong vùng. Vào nhà, sau khi nghe gia chủ trình bày ý định đập nhà cũ cất nhà mới, Thầy Năm Cần hỏi rõ tên tuổi của hai vợ chồng rồi lặng lẽ bấm ngón tay nhẩm tính. Bấm xong, sắc mặt ông thầy xám lại, lắc đầu phán bảo: "Tôi nói thiệt cho ông biết, vận mạng ông lúc này đang gặp hạn lớn. Ông tuyệt đối không được động thổ cất nhà lúc này! Hãy ráng ở lại căn nhà cũ chừng ba năm nữa, tới năm 2013 mới hợp tuổi. Nếu cố tình đập cất ngay bây giờ, tai họa khủng khiếp sẽ trút xuống đầu ông và gia quyến. Đợi ba năm nữa quay lại đây, tôi sẽ coi ngày lành cho mà làm."


Ông Hai Lỡ nghe vậy thì tức giận nuốt hận vào trong. Vừa bước chân về đến nhà, ông liền nổi giận mắng chửi bà Hai lừa lọc: "Bà thấy chưa? Đã bảo đi gặp mấy thằng thầy xàm xí chỉ thêm rước cục tức! Nhà hư nát tới nơi mà nó bắt đợi ba năm nữa! Tôi nhất quyết không nghe, ngay tuần này tôi phải cho đập nhà cất mới!"


Mặc cho bà Hai van khóc, ông Hai Lỡ vẫn gạt đi, thúc giục ba anh Minh gọi thợ hồ trong xóm đến san bằng căn nhà ba gian cổ, rồi dựng lên ngôi nhà thái hai tầng khang trang, lộng lẫy. Đến cuối năm 2010, ngôi nhà hoàn thành, con cháu dọn vào ở đông vui, rộng rãi. Suốt một năm đầu tiên trôi qua êm đềm, không có bất kỳ bất trắc nào xảy ra. Ông Hai Lỡ được đà hay cười nhạo vợ: "Bà thấy chưa? Tôi cất nhà khang trang cho con cháu ở sung sướng, có làm sao đâu! Mấy thằng thầy bói toàn phét phác!" Bà Hai Lỡ chỉ biết im lặng chịu đựng.


Thế nhưng, tai họa gõ cửa vào đầu năm 2011. Theo thói quen nhiều năm, mỗi buổi sáng bà Hai Lỡ đều thức dậy rất sớm, tầm bốn đến năm giờ sáng để quét dọn sân vườn, nấu nước pha trà cho ông Hai. Vậy mà buổi sáng hôm ấy, mãi đến bảy tám giờ sáng vẫn không thấy bóng dáng bà đâu. Cô Hai Thắm (con gái lớn) đi vào phòng ngủ thì thấy bà Hai vẫn nằm trên giường, hơi thở đều đặn như đang ngủ say. Cô Hai Thắm cất tiếng gọi: "Má ơi! Trễ lắm rồi, má dậy ăn sáng pha trà má ơi!" Cô Hai Thắm đến bên lay mạnh người bà, nhưng lay cỡ nào bà Hai vẫn nằm im lìm, mắt nhắm nghiền không chút phản ứng.


Cô Hai Thắm hốt hoảng la toán lên. Mọi người trong nhà ùa vào lay gọi nhưng bà Hai vẫn hôn mê sâu. Gia đình tức tốc thuê xe chở bà lên bệnh viện tuyến trên cấp cứu. Nửa đường đi, bà Hai đột ngột trút hơi thở cuối cùng, mạch đập hoàn toàn ngừng trệ. Mọi người khóc lóc thảm thiết nhưng vẫn ráng đưa bà vào phòng cấp cứu. Thật kỳ lạ, sau khi bác sĩ dùng máy kích tim, bà Hai đột nhiên thở trở lại, giữ được nhịp sống qua cơn nguy kịch.


Tuy nhiên, sau lần thoát chết ấy, cơ thể bà Hai Lỡ suy kiệt hoàn toàn. Từ một người già khỏe mạnh hàng ngày quét sân làm vườn, bà trở thành người liệt giường, chỉ có thể nằm một chỗ, mọi sinh hoạt đều phải phụ thuộc vào con cháu. Gia đình thương bà, chạy chữa khắp nơi, mời từ bác sĩ tây y đến thầy thuốc đông y về bắt mạch hốt thuốc nhưng bệnh tình không chút chuyển biến. 


Được ít lâu, vào một buổi chiều, bà Hai Lỡ đột ngột lên cơn co giật dữ dội, miệng sùi bọt mép trắng xóa. Gia đình hốt hoảng đưa bà trở lại bệnh viện. Sau hai ngày theo dõi, bác sĩ chẩn đoán y học bó tay, lắc đầu khuyên gia đình: "Bà cụ khó lòng qua khỏi, gia đình nên làm thủ tục đưa bà về nhà để bà được trút hơi thở cuối cùng tại quê nhà."


Trên chiếc xe cấp cứu lăn bánh đưa bà Hai về lại Rạch Rồng, bà đột nhiên mở mắt, tinh thần tỉnh táo lạ thường. Bà mệt mỏi cất tiếng hỏi con cháu: "Tụi con đang đưa má đi đâu vậy?" Mọi người sụt sùi đáp: "Tụi con đưa má về nhà." Bà Hai nghe xong liền thở dài lắc đầu: "Má mệt quá... Tự nhiên mệt dữ dội lắm tụi con ơi... Chắc má về nhà không nổi nữa rồi..." Vừa dứt câu, mắt bà nhắm lại, bà Hai Lỡ trút hơi thở cuối cùng ngay trên đường về.


Đưa thi thể bà Hai về đến nhà, Cô Hai Thắm vội vã chạy đi mời Thầy Năm Cần sang để coi ngày giờ tẩn liệm và chôn cất. Vừa bước chân vào cửa, Thầy Năm Cần tiến lại gần linh cữu, nhìn đăm đắm vào thi thể bà Hai rồi giật mình quay sang bảo Cô Hai Thắm: "Không được rồi! Phải làm lễ tẩn liệm ngay lập tức! Đưa bà vô hòm rồi đóng nắp, đóng đinh chặt lại ngay!"


Cô Hai Thắm hốt hoảng năn nỉ: "Thầy ơi sao gấp vậy thầy? Má con mới mất, con cháu ở xa còn đang bắt xe về chưa kịp nhìn mặt bà lần cuối. Thầy coi hoãn lại ít giờ cho con cháu về chào má một tiếng!"


Thầy Năm Cần gắt gao lắc đầu: "Tôi bảo liệm là phải liệm ngay! Đóng đinh hòm lại liền, không được chậm trễ một phút nào! Muốn gia đình yên ổn thì phải nghe lời tôi!"


Nói rồi, Thầy Năm Cần quay sang chỉ tay vào mặt ông Hai Lỡ - người đang ngồi gục đầu khóc sụt sùi bên góc nhà: "Tại ông! Chính tại ông mà vợ ông phải chết thảm như thế này!"


Ông Hai Lỡ ngước khuôn mặt già xua lên ngơ ngác: "Thầy nói sao vậy? Bà ấy bệnh nặng thì mất, sao lại tại tôi?"


Thầy Năm Cần đanh giọng: "Tôi đã bấm số cảnh báo ông từ trước! Mạng ông không được tuổi cất nhà, phải đợi đến năm 2013. Nhưng ông cậy tiền gàn dở, cố tình đập nhà cũ dựng nhà mới nên đã xài cạn sạch phước báu của bản thân! Âm đức tổ tiên nhà ông tích tụ qua bao đời nay đã đi đầu thai gần hết, chỉ còn lại chút ít phước mỏng. Khi ông tiêu tốn hết phước vì căn nhà này, tổ tiên gánh đỡ cho ông không nổi. Nhưng vì mạng ông quá lớn, cái nghiệp gạt đi không được nên dòng tộc đành phải chuyển cái tai hoạ đó sang người vợ của ông! Bà ấy chết là chết thay mạng cho ông đó! Đáng lẽ số bà ấy còn thọ thêm nhiều năm nữa, nhưng vì gánh tai kiếp cho ông nên mới phải ra đi trước thời hạn!"


Thầy Năm Cần nheo mắt giải thích tiếp: "Bà ấy chết oan, mạng chưa tận nên linh hồn hiện giờ vẫn đang lảng vảng oán uất quanh đây. Nếu ông để con cháu về tập trung đông đúc, khóc lóc thảm thiết rồi nhỏ nước mắt lên thi thể bà, linh hồn bà thấy con cháu đau thương sẽ sinh ra oán khí ngút trời. Lúc đó, cái vong linh oan khuất này sẽ quay lại quấy phá, gieo rắc tai họa cho cả dòng họ! Vì vậy phải liệm ngay, đóng đinh bịt kín linh cữu lại!"


Nghe Thầy Năm Cần phán từng câu từng chữ, ông Hai Lỡ hối hận khóc nghẹn ngào nhưng mọi chuyện đã quá muộn màng. Mọi người sợ hãi nghe theo lời thầy, lập tức tẩn liệm bà Hai Lỡ vào quan tài rồi đóng đinh chốt chặt, không cho con cháu ở xa kịp nhìn mặt lần cuối. Đám tang diễn ra nhanh chóng chớp nháy rồi đưa linh cữu bà ra nghĩa địa gia tộc chôn cất.


Vì ba anh Minh làm nghề thợ hồ, nên sau khi an táng bà nội xong, ông tự tay xây ngôi mộ bằng đá hoa cương kiên cố và đúc bốn cây cột bê tông xung quanh, dự định sẽ lợp mái che mưa nắng cho mộ mẹ. Tuy nhiên, chiều hôm đó công việc chưa xong, ba anh Minh đành lấy tạm một tấm bạt cao su dày phủ lên trên bốn cây cột để che mưa cho phần mộ bà Hai khỏi lạnh lẽo.


Đêm hôm ấy, vùng Rạch Rồng đón một trận mưa rào tầm tã, sấm chớp đùng đùng dội xuống đất đen. Sáng hôm sau, khi ba anh Minh ra nghĩa địa để tiếp tục lợp mái thì một cảnh tượng kinh hoàng đập vào mắt: Tấm bạt cao su bị gió cuốn đi mất hút, nhưng bốn cây cột bê tông mới đúc đêm qua đã bị sét đánh cháy đen thui như than. Đáng sợ hơn, có hai cây cột bị nứt chẻ đôi làm hai mảnh, và từ trong vết nứt bê tông chảy ra những vệt chất lỏng đỏ thẫm hệt như máu tươi!


Quá hãi hùng, Cô Hai Thắm lại tức tốc chạy sang nhà Thầy Năm Cần trình báo. Bấm ngón tay suy ngẫm, Thầy Năm Cần trầm giọng phán: "Cái này là do linh hồn bà Hai làm đó!"


Cô Hai Thắm kinh ngạc: "Sao má con lại làm vậy thầy?"


Thầy Năm Cần giải thích: "Căn nhà mới mà ba cô cố tình cất lên mang điềm hung khí rất nặng. Đất đai đã bị động, linh khí bị tổn hại, con cháu nếu tiếp tục sinh sống trong căn biệt thự đó sẽ lần lượt gặp họa tổn hại sức khỏe và tính mạng. Bà Hai hiện linh đánh cháy cột mộ, chảy máu cảnh báo là muốn con cháu phải lập tức dời đi nơi khác, tuyệt đối không được ở lại căn nhà tai ôi đó nữa!"


Cô Hai Thắm đem lời Thầy Năm Cần về bàn với gia đình. Bà Hai mất mới chừng mười ngày, nỗi đau chưa nguôi thì trong nhà đột nhiên phát sinh mâu thuẫn dữ dội. Không hiểu sao, thay vì cùng nhau tìm cách di dời, các anh em trong nhà lại nổi lòng tham, quay sang cãi lộn, tranh giành đất đai ruộng vườn và đòi bán đứt căn biệt thự mới cất để chia tiền phân chia tài sản.


Ngồi giữa nhà chứng kiến cảnh các con vì tiền bạc mà xâu xé, cãi chửi lẫn nhau khi xác vợ chưa ấm mả, ông Hai Lỡ đau đớn đến xé lòng. Ông lảo đảo bước đến trước bàn thờ bà Hai Lỡ, thắp ba nén nhang khóc nghẹn ngào: "Bà ơi! Tại tôi gàn dở mà bà phải bỏ tôi đi sớm... Tôi còn sống sờ sờ ở đây mà con cái đã quay lưng xâu xé đòi chia nhà chia đất... Bà ơi, bà linh thiêng thì về rước tôi đi luôn đi bà ơi!"


Ngay đêm hôm ấy, ông Hai Lỡ đột ngột lên cơn đau tim rồi qua đời tại chỗ. Chưa đầy một tháng ngắn ngủi, cả hai vợ chồng ông bà Hai Lỡ đều lần lượt nằm xuống. Con cháu lúc này mới bàng hoàng, hối hận khóc lóc thảm thiết.


Sau tang lễ của ông Hai Lỡ, gia đình không ai dám tiếp tục sinh sống trong căn biệt thự mới cất nữa. Mỗi khi bước chân vào nhà, mọi người đều cảm thấy không khí ngột ngạt, bực bội và khó chịu vô cùng, việc làm ăn của các con cũng sa sút lụi bại theo từng ngày. Cuối cùng, mấy anh em ngồi lại chia nhau từng mảnh ruộng, dời bàn thờ gia tiên sang một căn nhà gỗ nhỏ gần đó, còn ngôi biệt thự thái bề thế thì bỏ hoang hoàn toàn. Qua bao năm tháng, cỏ dại mọc om tòm bao phủ lấy ngôi nhà âm u, không một ai dám bén mảng bước vào.


Sau khi chia tài sản, các cô chú và ba anh Minh làm ăn ngày càng lụi bại, gia đình tan đàn xẻ nghé mỗi người một phương. Cô Hai Thắm ở lại căn nhà nhỏ thờ phụng ông bà, từng nhờ Thầy Năm Cần làm lễ gọi hồn bà Hai Lỡ về để con cháu tạ tội, nhưng thầy cúng gọi cỡ nào linh hồn bà cũng nhất quyết không về. Thầy bảo bà vẫn còn oán uất nên không muốn giáp mặt con cháu.


Tuy con cháu trong nhà không ai nhìn thấy vong linh bà Hai, nhưng những người dân xóm Rạch Rồng mỗi khi đi ngang qua căn biệt thự bỏ hoang vào giờ chạng vạng tối hoặc lúc mờ sáng đều bàng hoàng bắt gặp bóng dáng một bà lão mặc áo bà ba xám đang lặng lẽ cầm chổi quét sân. Có đôi lúc, bóng ma bà Hai Lỡ còn ngước lên nhìn người qua đường, vẫy tay cất giọng thều thào: "Vào đây chơi... Vào nhà nói chuyện chơi cho vui con..."


(Đoạn kết nhân quả)

Âm dương có luật, phước báu có nguồn. Con người sống trên đời phải biết gieo trồng nhân thiện, tôn kính thần linh và nghe lời răn dạy của tiền nhân. Sự tham lam, ngông cuồng coi thường điềm báo tâm linh chỉ đem lại cái giá quá đắt bằng chính máu và nước mắt của người thân. Phước báu tích tụ qua bao đời có thể bị san bằng chỉ trong chớp mắt bởi một quyết định ngông cuồng. Đến khi nhận ra thì tai họa đã giăng lối, nghiệp báo vây quanh, chẳng còn cơ hội để sửa sai.



--- CÂU TRUYỆN THỨ HAI: BỘI ƯỚC LỜI THỀ VÀ ĐỨA TRẺ BỊ HÀNH ---


(Lời mở đầu)

Giữa cõi tạm trần gian và thế giới tâm linh thăm thẳm luôn tồn tại những lời thề nguyện thiêng liêng. Khi con người lâm vào bước đường cùng, van xin quỷ thần che chở thì sẵn sàng dâng lên những lời hứa hẹn cao sang. Nhưng đến khi tai qua nạn khỏi, mấy ai giữ trọn được lòng thành hay lại coi nhẹ lời thề, tự tay xé bỏ giao ước với cõi âm. Sự bội ước ấy không chỉ thiêu rụi phước báu của bản thân mà còn kéo theo những tai kiếp thảm khốc trút xuống đầu những đứa trẻ ngây thơ vô tội.


Câu chuyện này xảy ra với chính anh Thiện (sinh năm 1996, quê gốc ở miền Tây). Năm anh Thiện lên ba tuổi (năm 1999), gia đình anh sống trong một căn nhà nhỏ ven đồi Bến Lức. Thời điểm đó, Ba Tùng và Mẹ Hiền của anh thường xuyên xảy ra cãi vã dữ dội. Ba Tùng là người tính tình cộc cằn, mỗi lần đi nhậu say về là lại kiếm chuyện chửi mắng và ra tay đánh đập Mẹ Hiền dã man.


Dù mới ba tuổi, nhưng trong ký ức của anh Thiện vẫn in hằn một trận bạo lực kinh hoàng. Chiều hôm ấy, Ba Tùng đi nhậu về ngấm men rượu, liền xông vào đè Mẹ Hiền xuống ghế salon bóp cổ, rồi lôi xềnh xệch mẹ vào nhà tắm để đánh đập. Anh Thiện đứng bên ngoài sợ hãi khóc ré lên dữ dội. Vì vừa ăn no lại khóc quá nhiều, anh Thiện bị ho sặc sụa rồi ói mửa ra một bãi lớn ngay giữa sàn nhà. 


Ba Tùng đánh vợ xong bước ra, thấy con ói mửa bẩn thỉu thì nổi điên quát lớn: "Mày nín ngay không? Khóc lóc cái gì mà ói mửa ra đây!" Nói rồi, Ba Tùng vung tay tát một cú trời đánh thẳng vào mặt đứa trẻ ba tuổi. Bị đòn đau, anh Thiện càng khóc thét lên thảm thiết.


Kể từ đêm hôm đó, một hiện tượng kỳ quái bắt đầu diễn ra. Ban ngày, anh Thiện vẫn ăn uống, chơi đùa bình thường như bao đứa trẻ khác. Nhưng cứ hễ chạng vạng tối đổ xuống, cơ thể anh lại bốc sốt cao ngùn ngụt. Mỗi khi sốt, anh Thiện lại giật mình thút thít, mắt nhắm nghiền mê sản gào lên trong hãi hùng: "Con sợ lắm! Đừng mà... Đừng đánh con... Con sợ lắm!"


Đêm nào kịch bản ấy cũng lặp lại. Ba Tùng và Mẹ Hiền hốt hoảng chở anh Thiện đi hết bệnh viện này đến phòng khám khác, nhưng kỳ lạ thay, cứ hễ bước chân vào bệnh viện thì anh Thiện lại hạ sốt, cơ thể hoàn toàn bình thường. Bác sĩ khám xét kỹ lưỡng rồi lắc đầu bảo: "Đứa bé hoàn toàn khỏe mạnh, không hề có bệnh lý gì cả. Chắc do thời tiết nóng sốt thông thường của trẻ nhỏ thôi."


Tình trạng sốt mê sản về đêm kéo dài suốt hơn một tháng trời khiến anh Thiện ngày càng gầy gò, xanh xao. Thấy cháu ngoại bị hành hạ, Bà Ngoại Tám từ quê lên thăm liền quyết định đưa anh Thiện đến nhà Thầy Lang Chín - một vị thầy thuốc nam nổi tiếng mát tay trong vùng. 


Lần đầu tiên bắt mạch, Thầy Lang Chín kê mười thang thuốc nam dặn đem về sắc cho bé uống trong mười ngày. Tuy nhiên, uống hết mười thang thuốc, tình trạng sốt mê sản về đêm của anh Thiện vẫn không hề thuyên giảm. Bà Ngoại Tám lại bế cháu quay trở lại nhà thầy.


Lần này, Thầy Lang Chín đặt tay bắt mạch cho anh Thiện rất lâu. Chợt, ông chau mày, buông tay ra rồi thở dài nói với Bà Ngoại Tám: "Tôi nói thật cho bà biết, thằng nhỏ này trong người nó hoàn toàn không có bệnh tật gì cả! Sở dĩ nó bị hành hạ như vậy là do cha mẹ nó đã phạm phải một lời thề nguyện tâm linh rất nặng! Bà về hỏi kỹ lại vợ chồng chúng nó xem đã thất hứa điều gì với cõi âm rồi quay lại đây tôi chỉ cách!"


Bà Ngoại Tám bế cháu về nhà, gắt gao tra hỏi Mẹ Hiền. Mẹ Hiền ngẫm nghĩ một hồi rồi sực nhớ lại chuyện cũ cách đây ba năm. Hồi năm 1996, khi mới mang bầu anh Thiện, vì cuộc sống gia đình quá khó khăn thiếu thốn, Ba Tùng và Mẹ Hiền đã bàn nhau quyết định sẽ bỏ thai.


Hôm đó, Ba Tùng lấy xe máy chở Mẹ Hiền lên bệnh viện để làm thủ tục bỏ thai. Kỳ lạ thay, khi xe mới chạy được một đoạn đường thì Ba Tùng đột nhiên bị một cơn đau bụng dữ dội hoành hành. Cơn đau quằn quại khiến ông gục xuống tay lái, đau đến mức xỉu up xỉu down ngay giữa đường. Nhận thấy điều bất thường, Ba Tùng liền nhớ đến linh hồn người mẹ đã mất (bà nội anh Thiện). Ba Tùng chắp tay lên ngực khấn thầm: "Má ơi! Có phải má không muốn cho con chở vợ đi bỏ thai không? Má muốn giữ lại đứa cháu này phải không má? Nếu đúng là má muốn giữ cháu, xin má làm cho con hết đau bụng, con hứa sẽ chở vợ về ngay chứ không bỏ con nữa!"


Kỳ diệu thay, vừa dứt lời khấn, cơn đau bụng dữ dội của Ba Tùng biến mất hoàn toàn. Ba Tùng lập tức quay xe chở Mẹ Hiền về nhà, quyết định giữ lại thai nhi.


Đến ngày Mẹ Hiền chuyển dạ, cô gặp phải ca sinh khó, thai nhi bị ngạt nguy hiếm đến tính mạng. Đứng bên ngoài phòng đẻ, Ba Tùng vô cùng hoảng sợ. Ông chắp tay hướng lên trời khấn nguyện gia tiên thần linh: "Con xin bề trên và tổ tiên phù hộ cho vợ con đẻ được liền, mẹ tròn con vuông! Con xin thề nếu vợ con sinh nở an lành, con sẽ ăn chay trường suốt một tháng trời để tạ ơn gia tiên!"


Ngay sau lời khấn nguyện ấy, tiếng khóc chào đời của anh Thiện cất lên giòn giã bên trong phòng đẻ, Mẹ Hiền mẹ tròn con vuông. Đưa vợ con về nhà, Ba Tùng bắt đầu thực hiện lời thề ăn chay. Thế nhưng, ông mới ăn chay được vỏn vẹn sáu ngày thì đám bạn nhậu rủ rê đi ăn thịt dê. Mặc dù ban đầu Ba Tùng từ chối vì đang vướng lời thề ăn chay một tháng, nhưng trước sự chèo kéo, chế giễu của bạn bè, Ba Tùng tặc lưỡi bỏ ngang lời thề, lao vào cuộc nhậu thịt dê và đổ mặn trở lại.


Kể từ ngày tự tay xé bỏ lời thề với gia tiên, Ba Tùng dần thay tính đổi nết, trở nên cộc cằn, hung hãn và liên tục rước rượu về đánh đập Mẹ Hiền, cho đến đỉnh điểm là cú tát trời đánh vào mặt đứa con nhỏ ba tuổi.


Nghe Mẹ Hiền kể lại toàn bộ sự việc, Bà Ngoại Tám đem chuyện đến trình báo với Thầy Lang Chín. Thầy Lang Chín đập bàn thở dài: "Rể bà phạm tội quá nặng! Đã dâng lời thề ăn chay một tháng tạ ơn gia tiên mà mới ăn sáu ngày đã phá thề ăn thịt dê nhậu nhẹt. Đã vậy, tổ tiên và quỷ thần đã ra tay cứu giúp đứa trẻ được sinh ra khỏe mạnh, vậy mà nó lại tát đánh đứa trẻ vô tội. Sự bội ước và hành động thất đức đó đã làm gia tiên và thần linh nổi giận sâu sắc. Họ đang muốn bắt đứa bé đi chứ không cho nó sống ở cõi đời này nữa!"


Bà Ngoại Tám hoảng sợ khóc lóc cầu xin Thầy Lang Chín cứu giúp. Thầy Lang Chín trầm ngâm rồi chỉ dạy: "Bây giờ bà phải về ngay căn nhà đó, nấu một nồi cháo trắng thật lớn. Múc ra đúng năm chén cháo, cùng ba chén riêng (một chén gạo đầy, một chén nước đầy, một chén muối đầy) và một dĩa trái cây tươi đem ra đặt trước bàn thờ Thiên ngoài sân. Bà phải thành tâm cúng bái liên tục suốt ba ngày ba đêm. Mỗi sáng thắp nhang khấn nguyện Mẹ Sanh Mẹ Độ và gia tiên tổ sinh xin xá tội cho sự ngu muội của cha mẹ nó, van xin cho đứa trẻ được bình an. Nếu qua được hạn này, phải nuôi dạy nó cẩn thận cho đến năm mười tuổi mới hoàn toàn thoát nạn. Ngay khi đứa trẻ khỏe lại, phải đưa nó lên chùa quy y theo Phật!"


Bà Ngoại Tám vội vã về nhà làm theo đúng từng lời Thầy Lang Chín dặn dò. Suốt ba ngày ba đêm, Bà Ngoại Tám quỳ trước bàn thờ Thiên thành tâm thắp nhang khấn nguyện. Thật kỳ diệu, ngay sau khi hoàn thành lễ cúng ba ngày ba đêm, anh Thiện dứt hoàn toàn cơn sốt về đêm. Đêm đến, đứa trẻ ba tuổi ngủ một mạch ngon lành, không còn mê sản hay gào khóc hãi hùng nữa.


Một tháng sau, Dì Tư Dung (chị gái Mẹ Hiền) chở anh Thiện lên Chùa Núi Châu Thới để làm lễ quy y. Kỳ lạ thay, vừa bước chân vào sân chùa, anh Thiện đột nhiên chạy xông lại, ôm chặt lấy vị Sư Thầy Thích Giác Tâm như thể đệ tử lâu ngày gặp lại người thầy kính yêu. 


Sư Thầy Thích Giác Tâm mỉm cười xoa đầu đứa trẻ: "Đứa bé này có duyên sâu nặng với Phật pháp, mang căn tu từ kiếp trước." Nối rồi, Sư Thầy làm lễ quy y cho anh Thiện, đặt pháp danh là Thiện Mạnh. Sư Thầy tặng cho anh Thiện một sợi dây ngũ sắc đeo vào tay và trao một lá bùa chú gói kín, dặn đem về đặt dưới gối ngủ để xua đuổi tà khí, bảo vệ đứa trẻ bình an. Kể từ đó, anh Thiện lớn lên khỏe mạnh, hoàn toàn thoát khỏi tai kiếp cõi âm.


(Đoạn kết nhân quả)

Lời thề trước thần linh và gia tiên không phải là trò đùa của kẻ xốc nổi. Khi lâm nguy van xin thành kính bao nhiêu thì khi bình an phải giữ trọn lời hứa bấy nhiêu. Sự lật lọng, bội ước không chỉ làm tổn hại âm đức mà còn gieo rắc tai họa xuống chính những người thân yêu nhất. Sống trên đời, giữ trọn lời thề và lòng thành kính chính là chiếc lá chắn vững chắc nhất bảo vệ bản thân và gia đình trước những dông bão của nghiệp báo.



--- CÂU TRUYỆN THỨ BA: SÁM HẠI TƯỢNG PHẬT VÀ BÓNG ĐEN ĐÒI NỢ ---


(Lời mở đầu)

Trong muôn vàn tội lỗi ở đời, đập phá bàn thờ gia tiên và đập nát thánh tượng Phật giáo là những hành vi đại nghịch bất đạo, tự tay gieo xuống nghiệp thảm khốc nhất. Sự cuồng ngông, coi thường cõi âm và thánh thần sẽ vắt cạn những giọt phước báu cuối cùng của con người. Để rồi khi phước tận nghiệp dày, quỷ thần nổi giận, kẻ đắc tội sẽ phải trả giá bằng những cơn đau đớn thể xác, sự hoảng loạn tâm trí và một kết cục thê thảm không đường lui.


Câu chuyện thứ ba xảy ra vào năm 2016, khi anh Thiện đã tròn 20 tuổi. Sau khi bà nội anh Thiện qua đời nhiều năm, ông nội anh (ông Bảy Lỡ) đi bước nữa với một người phụ nữ khác, gọi là Bà Kế Liễu. Năm 2016, ông Bảy Lỡ lâm bệnh nặng phải nhập viện điều trị. Tuy nhiên, Bà Kế Liễu vì không muốn vào viện chăm sóc chồng nên đã giả bệnh, nói dối gia đình vừa đi cấp cứu về mệt mỏi. Thực chất, bà ta lén lút dọn đồ trốn đi du lịch Singapore cùng bạn bè.


Biết được sự thật bỉ ỉu đó, Ba Tùng vô cùng tức giận. Chiều hôm ấy, Ba Tùng đi nhậu về ngấm men rượu ghen tức. Cô Hai Thắm (chị gái Ba Tùng) thấy em trai nhậu say bèn lên tiếng trách móc: "Mày là con trai mà không chịu vô viện lo cho ba, ở đó nhậu nhẹt quậy phá! Bà Kế Liễu bả bỏ đi du lịch kệ bả, mình làm phận con phải biết lo cho cha chứ!"


Đang có men rượu trong người lại bị chị gái trách mắng, Ba Tùng nổi điên cãi lộn dữ dội với Cô Hai Thắm. Trong cơn cuồng cuộn giận dữ, Ba Tùng xông lại góc nhà, giật phăng bàn thờ gia tiên xuống sàn rồi đạp đập nát tan tành. Chưa dừng lại ở đó, Ba Tùng quay sang đập phá luôn khung liễn kiếng sau bàn thờ Ông Địa - Thần Tài. Mảnh kính vỡ bắn tung xé rách tay anh Thiện khi anh xông vào can ngăn, để lại một vết sẹo dài vĩnh viễn trên cổ tay anh. Mẹ Hiền khóc lóc van xin mãi Ba Tùng mới chịu bỏ vào phòng ngủ.


Ít ngày sau, Ba Tùng lại tiếp tục nhậu say khướt trở về nhà. Lần này, ông hất hàm gào lên bắt Mẹ Hiền: "Bà trèo lên lấy tượng Phật A Di Đà xuống đây cho tôi! Mau lên!"


Tượng Phật A Di Đà bằng đá màu đen này vốn có một lịch sử đặc biệt. Hồi năm 1996, khi Mẹ Hiền vừa sinh anh Thiện, Ba Tùng đi nhậu sáng đêm về bị Mẹ Hiền chửi trách không biết lo cho vợ con. Ba Tùng tức giận đem cầm chiếc xe máy 67 đắt tiền lấy hai triệu đồng rồi trốn lên Tây Ninh ăn chơi đồi trụy. Sau khi tiêu sạch hai triệu đồng, Ba Tùng thỉnh pho tượng Phật A Di Đà màu đen này về thờ trên cao. Pho tượng ấy đã gắn bó với gia đình suốt 20 năm trời.


Thấy Ba Tùng đòi lấy tượng Phật xuống, Mẹ Hiền vô cùng hoảng sợ vì biết chồng sắp làm chuyện dại chuột. Mẹ Hiền van xin: "Anh nhậu say rồi, vô ngủ đi anh! Đừng quậy phá nữa!" Ba Tùng gật đầu ừ hữ rồi bảo mẹ ra sau nhà dọn dẹp để ông đi ngủ.


Thế nhưng, khi Mẹ Hiền vừa bước ra đằng sau vừa cầm cái giẻ rửa chén thì một tiếng "XOẢNG!" chát chúa vang lên giữa nhà. Mẹ Hiền hốt hoảng chạy lên thì bàng hoàng thấy pho tượng Phật A Di Đà bằng đá đen đã bị Ba Tùng bưng xuống đập bể nát tan thành từng mảnh nhỏ trên nền gạch.


Mẹ Hiền gào lên khóc nức nở: "Trời ơi! Sao anh lại đập tượng Phật? Anh làm cái trò thất đức gì vậy anh?" Ba Tùng trợn mắt đáp trả ngông nghênh: "Tôi ghét ổng thì tôi đập! Tôi thấy ổng gai mắt thì tôi phá!"


Nói rồi, Ba Tùng bỏ vào phòng nằm. Mẹ Hiền nghẹn ngào lấy chổi quét các mảnh vỡ tượng Phật gom vào thùng rác. Đợi Ba Tùng ngủ say, Mẹ Hiền lén bới thùng rác, nhặt lại từng mảnh đá vỡ của tượng Phật, cẩn thận bọc vào túi vải đem gửi lên chùa để các sư thầy xử lý.


Khoảng hai tuần sau cái đêm đập tượng Phật, Mẹ Hiền tự nhiên đổ bệnh nặng. Dì Tư Dung hay tin liền chạy sang thăm em gái. Kỳ lạ thay, vừa bước chân vào cửa nhà, Dì Tư Dung đột nhiên đảo chao, bần thần người đi. Ngay sau đó, linh hồn Dì Năm Xuân (người em gái đã mất nhiều năm trước của Mẹ Hiền và Dì Tư Dung) mượn xác Dì Tư Dung nhập vào.


Linh hồn Dì Năm Xuân cất giọng thều thào bảo Mẹ Hiền: "Út ơi! Năm nè... Năm nghe em bệnh nên Năm khiến Chị Tư lên thăm, rồi Năm đi theo lên thăm em. Năm thèm cà phê quá Út ơi, em pha cho Năm ly cà phê đi! Năm lên núi tu tập lâu rồi không được uống cà phê..."


Mẹ Hiền hốt hoảng vội vã đi pha ly cà phê. Trong lúc Mẹ Hiền ở dưới bếp, linh hồn Dì Năm Xuân quay sang nhìn Ba Tùng - người đang ngồi thu mình ở góc nhà - rồi chỉ tay đanh giọng chửi: "Ê cái thằng kia! Cưng lấy em Út của chị, cưng không thương nó mà suốt ngày chửi đánh, hành hạ nó! Do nó mắc nợ cưng từ kiếp trước nên cưng làm vậy chị không chấp. Nhưng cưng là cái thằng quá trời quậy! Tượng Phật cưng cũng đập, bàn thờ gia tiên cưng cũng phá nát tan! Ông bà tổ tiên của cưng đang giận cưng lắm đó! Cưng lo mà tu tập sám hối đi, chứ để ông bà giận quá là ông bà lôi cưng đi theo luôn đó!"


Ba Tùng nghe vong linh Dì Năm Xuân phán thì sợ hãi co rúm người lại, không dám đáp một lời. Mẹ Hiền mang ly cà phê lên, Dì Năm Xuân uống một hơi hết sạch rồi chào em gái xuất ra. Dì Tư Dung trở lại bình thường, hoàn toàn không hề hay biết mình vừa bị nhập.


Một tháng sau, Bé Út (em gái anh Thiện) vì được nuông chiều nên lười biếng, bị Mẹ Hiền sai quét nhà thì dùng dằng khó chịu. Ba Tùng thấy vậy liền vô cớ chửi mắng Mẹ Hiền: "Mày đừng có mang cái giống khùng dòng họ mày ra đây! Con nhỏ mới chừng đó mà mày sai nó quét nhà!" 


Hai ngày sau, Ba Tùng đi nhậu được bạn cho một dĩa thịt chó. Ăn xong chưa đã thèm, Ba Tùng ra chợ mua thêm một ký thịt chó về tự chế biến nhậu tiếp. Thế nhưng, vừa ăn xong dĩa thịt chó, Ba Tùng đột nhiên bị một cơn đau bụng dữ dội hoành hành. Ông ho sặc sụa rồi ói mửa liên tục. Cơn ói mửa dữ dội đến mức ông ói đầy tràn cả một chiếc xô nhựa lớn dung tích 5 - 10 lít.


Mẹ Hiền hốt hoảng đưa Ba Tùng vào bệnh viện cấp cứu. Vì sợ dịch dạ dày trào ngược vào màng phổi gây nguy hiểm, bác sĩ đã luồn một chiếc ống thông từ mũi xuống tận dạ dày Ba Tùng để hút dịch, đồng thời nghiêm cấm ông không được tự ý rút ống và không được uống nước. Thế nhưng, khi bác sĩ vừa quay lưng đi, Ba Tùng với bản tính ngang bướng đã tự tay giật phắt chiếc ống thông ra khỏi mũi. Bác sĩ phải quay lại la mắng rồi đặt lại chiếc ống thông lần thứ hai.


Nằm trên giường bệnh, Ba Tùng liên tục kêu than khát nước. Mẹ Hiền không dám cho uống nhiều, chỉ dùng chiếc muỗng cà phê nhỏ đút từng giọt nước vào miệng chồng. Uống được vài muỗng, Ba Tùng đột nhiên thì thào, ánh mắt lộ rõ sự hoảng loạn tột cùng nhìn Mẹ Hiền: "Em ơi... Sao có hai người đen thui lùi đứng ngoài cửa sổ dòm anh vậy? Họ đi theo mình từ lúc ở nhà lên tới bệnh viện luôn đó em!"


Mẹ Hiền giật mình nhìn ra cửa sổ phòng bệnh nhưng hoàn toàn không thấy ai. Mẹ Hiền bảo: "Ông mệt rồi tưởng tượng ra thôi, ngoài đó làm gì có ai!" Ba Tùng hoảng hốt chỉ tay: "Kìa! Họ đứng ngay cửa sổ kìa! Người đen thui từ trên xuống dưới, không thấy mặt mũi gì hết! Họ đi theo anh từ nhà lên đây, giờ đứng dòm anh khó chịu quá! Em ra đuổi họ đi đi em!"


Đúng lúc đó, y tá gọi Mẹ Hiền ra ngoài hành廊 để ký giấy tờ thủ tục. Ngay khi Mẹ Hiền vừa bước ra khỏi phòng, Ba Tùng ở bên trong đã chộp lấy chai nước suối uống ực ực, rồi lập tức lên cơn co giật, ói mửa dữ dội. Ông tự tay giật phắt chiếc ống thông ra, rồi gục hẳn đầu vào chiếc xô ói mửa. 


Khi Mẹ Hiền và bác sĩ chạy lại thì Ba Tùng đã gục lịm, mắt trợn ngược, cơ thể hoàn toàn ngưng đập. Sau khi hồi sức cấp cứu, bác sĩ lắc đầu thông báo: "Bệnh nhân đã bị chết não hoàn toàn, gia đình nên đưa về nhà rút ống thở."


Gia đình đưa Ba Tùng về nhà rút ống thở, Ba Tùng qua đời. Trong tang lễ của Ba Tùng, Dì Tư Dung lại một lần nữa bị linh hồn Dì Năm Xuân nhập vào. Linh hồn Dì Năm Xuân an ủi Mẹ Hiền: "Út ơi, em đừng buồn nữa! Em đã trả hết nợ kiếp trước cho nó rồi. Thằng này nó ngông cuồng hỗn xược với gia tiên, đập nát tượng Phật nên phước báu đã cạn sạch hoàn toàn, nó phải đi sớm như vậy đó. Nó đẻ sau em 22 ngày là do kiếp trước em thiếu nợ nó, nó rượt theo đầu thai để đòi nợ em. Nay nợ nần đã trả xong, em hãy sống yên ổn nuôi con!"


(Đoạn kết nhân quả)

Tượng Phật là hiện thân của sự từ bi và trí tuệ, bàn thờ gia tiên là nơi tôn nghiêm thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn. Đập phá bàn thờ, hủy hoại thánh tượng chính là hành vi tự tay dập tắt ngọn đèn phước báu của chính mình. Nghiệp quật từ sự hỗn xược tâm linh không bao giờ đến chậm. Những cơn đau đớn gặm nhấm, những hoảng loạn điên dại trước giờ tử biệt chính là cái giá thảm khốc mà kẻ vô đạo phải trả lại cho đời.



--- CÂU TRUYỆN THỨ TƯ: OÁN SÙNG NHẬP XÁC VÀ THẢM ÁN CHÁU NỘI ---


(Lời mở đầu)

Trên đời này, những vụ án điên loạn, tàn khốc xảy ra đôi khi không chỉ xuất phát từ sự biến đổi tâm trí con người, mà còn do những thế lực oán sùng tà độc từ cõi âm xâm nhập. Khi lòng người yếu mềm hoặc vướng phải những nghiệp sát cổ xưa, tà khí sẽ thừa cơ chiếm lấy xác thân, biến tình thân ruột thịt thành bi kịch máu xương thảm khốc. Sự việc ấy là nỗi ám ảnh truyền đời, như một lời nhắc nhở kinh hoàng về những điều kiêng kỵ tâm linh nơi xóm làng.


Câu chuyện cuối cùng xảy ra cách đây rất nhiều năm tại một làng quê ven đầm. Câu chuyện này do chính ông Hai Lỡ kể lại cho con cháu nghe về gia đình một người bạn già tên là Ông Bảy Chiến. Trong họ hàng nhà Ông Bảy Chiến có một người bà con tên là Bà Ba Dần. Bà Ba Dần vốn bị mắc bệnh tâm thần nặng từ nhiều năm, tâm trí lúc nào cũng ngơ ngơ ngác ngác, nói năng nhảm nhí.


Bà Ba Dần có một người con trai tên là Anh Hai Đạt và cô con dâu là Chị Hai Thảo. Hai vợ chồng Anh Hai Đạt sinh được một đứa con trai kháu khỉnh ba tuổi, đặt tên là Bé Tèo. Dù người mẹ bị điên dại, nhưng Anh Hai Đạt và Chị Hai Thảo là những người con rất hiếu thảo. Mặc cho người trong xóm khuyên nên đưa Bà Ba Dần vào trại tâm thần, hai vợ chồng nhất quyết không chịu vì sợ mẹ vào đó sẽ bị người ta đánh đập, hành hạ. Hai vợ chồng quyết định giữ mẹ ở nhà để tự tay phụng dưỡng, chăm sóc bữa ăn giấc ngủ.


Tuy nhiên, biết mẹ mình tâm thần không kiểm soát được hành vi, hai vợ chồng Anh Hai Đạt chưa bao giờ dám để Bé Tèo ở nhà một mình với Bà Ba Dần. Mỗi khi có việc phải đi xa, anh chị đều gửi Bé Tèo sang nhà ngoại nhờ trông giúp.


Thế nhưng, vào một buổi sáng nọ, gia đình có công việc đột xuất vô cùng cấp bách dưới chợ huyện. Vì nhà ngoại ở quá xa không kịp gửi con, lại nghĩ đi rồi về ngay trong chốc lát, hai vợ chồng Anh Hai Đạt dặn dò Bà Ba Dần ngồi trên phản, rồi để Bé Tèo ở nhà chơi quanh quẩn bên bà nội.


Giải quyết xong công việc dưới chợ, hai vợ chồng hối hận vội vã chạy xe về nhà. Vừa bước chân vào cổng, Chị Hai Thảo đã vội vã cất tiếng gọi con: "Tèo ơi! Tèo ơi! Con đâu rồi Tèo?"


Không thấy tiếng đứa trẻ ba tuổi đáp lại như mọi khi, Chị Hai Thảo tưởng con chạy sang nhà xóm chơi nên định bước đi tìm. Đúng lúc đó, từ trong căn bếp tối om om, Bà Ba Dần lảo đảo bước ra. Khuôn mặt bà ta lạnh ngắt, đôi mắt trợn ngược dại đờ nhìn hai con.


Bà Ba Dần cất giọng thều thào, lạnh ngắt như từ dưới cõi âm vọng lên: "Kiếm thằng Tèo hả? Kiếm thằng Tèo hả... Tao làm thịt nó sạch sẽ rồi! Tao để trong tủ đằng sau kìa!"


Nghe câu nói kỳ quái của người mẹ điên, hai vợ chồng Anh Hai Đạt rụng rời chân tay, tim đập liên hồi vì một điềm báo kinh hoàng. Anh Hai Đạt lao xông ra gian bếp sau, mở tung cánh cửa tủ gỗ.


Một cảnh tượng thảm khốc, dã man hiện ra trước mắt: Thi thể đứa trẻ ba tuổi (Bé Tèo) đã bị chặt phân ra thành từng khúc nhỏ, nhét chật cứng bên trong tủ gỗ bếp. Máu tươi chảy lênh láng khắp gạch sàn.


Chị Hai Thảo nhìn thấy cảnh tượng ấy liền gào lên một tiếng xé lòng rồi ngất xỉu ngay tại chỗ. Anh Hai Đạt chết lặng, gục xuống sàn nhà trong sự điên dại, đau đớn tột cùng.


Ông Hai Lỡ kể thêm, xưa kia căn nhà của Bà Ba Dần từng nuôi một con khỉ rừng rất hung dữ. Con khỉ ấy sau này bị chết oan. Người già trong làng đồn đại rằng, chính linh hồn tà độc của con khỉ chết năm xưa đã hóa thành quỷ sùng, thừa lúc Bà Ba Dần tâm trí điên dại để nhập vào xác thân bà ta, điều khiển bà ta thực hiện tội ác sát hại cháu nội dã man tột cùng nhằm trả thù gia đình.


(Đoạn kết nhân quả)

Tình thân ruột thịt là sợi dây thiêng liêng nhất kết nối con người. Nhưng khi nghiệp sát từ quá khứ chưa được hóa giải, tà khí cõi âm thừa cơ xâm nhập thì bi kịch máu xương có thể bùng lên ngay trong chính mái nhà. Sống ở đời, bên cạnh việc giữ trọn đạo hiếu, con người phải luôn làm lành tránh ác, tránh xa những nghiệp sát sanh tà độc để không vô tình mở cửa cho quỷ sùng quấy phá, rước tai họa thảm khốc vào dòng tộc.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

🎙️ TRỢ LÝ TRUYỆN AUDIO

Chương 1 - Phần 1: Cả Tông Môn Khinh Ta Là Linh Nông - Nào Ngờ Ta Trồng Ruộng Thành Tiên