6 Chuyện Ma Tài Xế Đường Dài Có Thật: Gặp Vong Trên Những Cung Đường Đêm | Kỳ 23 Âm Dương Phủ
[TÊN TRUYỆN GỢI Ý CHO ÂM DƯƠNG PHỦ: CHUYẾN XE ĐÊM VÀ NHỮNG VỊ KHÁCH KHUẤT MẶT]
[PART 1/3]
*** TRUYỆN THỨ NHẤT: BÓNG NGƯỜI NGƯỢC CHIỀU TRÊN ĐÈO HOANG ***
Cõi âm dương vốn mỏng manh như màn sương đêm che khuất đỉnh đèo. Chốn rừng thiêng nước độc, dốc thẳm vực sâu, có những kẻ bỏ mạng oan khuất, dã tâm chưa dứt, đêm đêm vẫn hiện hình bên vệ đường vẫy gọi người sống đi làm kẻ thế mạng. Người dương yếu bóng vía mà dừng chân, ắt sa vào cửa tử.
Tên tôi là Rạng. Hai mươi hai năm qua, tôi chạy xe tải đông lạnh từ các chợ đầu mối đổ hàng đi khắp các tỉnh. Hãng xe cũ của tôi giờ không còn nữa, ông chủ xưởng đã qua đời hồi năm 2019, đám con cháu chia chác rồi bán sạch xe. Tôi kể rõ lai lịch để các bạn hiểu rằng, tôi không phải là gã tài xế mới vào nghề, yếu bóng vía rồi bịa chuyện dọa người dọa mình ở các quán cơm phở ven đường. Tôi đã lăn lộn qua đủ mọi cung đường, trải qua đủ mọi thời tiết. Có những thứ tôi giải thích được, và có những thứ vĩnh viễn là bí ẩn cõi âm. Câu chuyện này thuộc về vế thứ hai.
Đó là vào tiết trời cuối thu năm 2011. Tôi chở một chuyến thịt đông lạnh đánh từ miền xuôi lên thẳng Tây Nguyên. Vì kẹt hàng ở xưởng nên 4 giờ chiều tôi mới bắt đầu lăn bánh. Khi chiếc xe tải gầm gừ bò lên những con đèo giáp ranh, mặt trời đã tắt ngấm, nhiệt độ ngoài trời giảm sâu, sương mù buốt giá bắt đầu giăng kín. Ai từng chạy đêm trên đoạn đèo vắng dọc Quốc lộ 14 lúc nửa đêm đều biết nó ám ảnh thế nào. Nó hun hút. Nó vắng lặng. Gió rít qua những khe núi mạnh tới mức muốn hất tung cả thùng xe. Giữa màn sương đặc quánh, có khi chạy cả chục cây số cũng chẳng thấy le lói một ánh đèn hậu của xe đi trước.
Tôi đang thả dốc qua một khúc cua tay áo thì thấy hắn. Một người đàn ông đi bộ bên lề đường bên phải, nhưng lại đi ngược chiều, đi thẳng về phía đầu xe tôi. Đó là một ông lão, mặc chiếc áo tơi sờn cũ màu nâu, đầu đội nón cối sụp xuống che khuất nửa khuôn mặt. Lão giơ một tay lên cao, cái thế vẫy xe như muốn xin quá giang.
Tôi không hề hãm phanh. Kể từ năm 1996, khi một người bạn của tôi bị cướp chém trọng thương bởi một gã giang hồ đội lốt ông già hiền lành, tôi đã thề không bao giờ đón khách dọc đường. Tôi đánh lái né ông lão rồi giữ đều chân ga. Nhưng điều quái gở bắt đầu từ đây. Vừa lướt qua, tôi liếc mắt nhìn vào gương chiếu hậu bên phụ. Vệ đường trống trơn. Không có người đàn ông nào. Không có bóng dáng nào cả. Đoạn đèo đó là vách núi dựng đứng và vực sâu không đáy, chẳng có lối mòn nào để một con người có thể biến mất nhanh đến vậy.
Tôi tự nhủ chắc do mình hoa mắt vì thiếu ngủ. Tôi tu một ngụm cà phê đen đặc, với tay vặn to đài radio. Thế nhưng hai mươi phút sau, cách đó chừng hơn chục cây số, tôi lại thấy lão. Vẫn chiếc áo tơi màu nâu ấy. Vẫn chiếc nón cối ấy. Vẫn cái dáng giơ tay vẫy xe đi ngược chiều trong đêm tối.
Tôi nắm chặt vô lăng đến tứa mồ hôi hột. Nói thật, tôi bắt đầu lảm nhảm nói chuyện một mình. Tôi đọc to những thứ mình nhìn thấy trước đèn pha, để cái âm thanh của con người lấn át đi nỗi sợ khi tâm trí bắt đầu sinh ra ảo giác. Tôi lướt qua lão lần thứ hai. Lại liếc gương. Vẫn trống không.
Đến lần thứ ba thì tôi hết sợ. Thay vào đó là cơn giận dữ nổi lên—cái thứ bực tức của một kẻ đang căng thẳng thì cứ bị người ta chọc tức. Hắn lù lù xuất hiện cách tôi một đoạn ngắn, đứng ngay giữa lề đường, tay vẫn giơ lên. Tôi quyết định rồi. Tôi sẽ tấp xe lại, xuống hỏi cho ra lẽ. Dù là người đóng giả dọa ma hay ảo giác, tôi cũng muốn kết thúc chuyện này. Tôi với tay định bật đèn xi nhan khẩn cấp.
Ngay đúng giây phút đó, chiếc bộ đàm CB trên xe tôi xè xè rung lên. Một giọng nói vang lên trong trẻo, rõ mồn một. Đó là giọng của một người đàn ông lớn tuổi, đều đều, chậm rãi:
"Đừng dừng lại, Rạng. Bất kể thế nào, tuyệt đối không được dừng xe."
Máu trong người tôi đông cứng, lạnh ngắt từ đỉnh đầu xuống tận gót giày. Tôi đâu có bóp mic? Tôi đã không nhắc đến tên mình trên sóng bộ đàm từ mấy tuần nay rồi. Giữa cái đèo hoang vu giờ này, làm gì có ai quen biết tôi mà gọi? Run rẩy, tôi bóp mic đáp lại: "Ai đấy? Sao biết tên tôi?"
Không có tiếng trả lời. Chỉ có tiếng rè rè. Tôi gào lên: "Trả lời đi! Tôi đang nói chuyện với ai?" Đáp lại chỉ là một tiếng rít dài xèo xèo như tiếng gió lùa qua khe cửa trọ.
Tôi thốc ga. Tôi đạp lút cán, lao vút qua cái bóng đen kia mà không thèm liếc mắt nhìn ra ngoài. Tôi chạy một mạch hơn trăm cây số không dám chớp mắt, hai tay bám chết vào vô lăng, hàm răng cắn chặt đến mức hai ngày sau vẫn còn ê buốt. Khi đến được trạm dừng chân lúc 3 giờ sáng, tôi đậu xe tít góc trong cùng, chốt chặt mọi cánh cửa, chui vào buồng ngủ bật đèn sáng rực và ngồi bó gối đến tận khi trời sáng.
Sáng hôm sau, tôi ngồi ăn phở ở quán cơm ven đường, đối diện là một bác tài già râu tóc bạc phơ, da tay sạm đen vì sương gió. Tôi kể lại chuyện đêm qua. Bác tài già không cười. Sắc mặt ông không hề thay đổi. Ông chỉ chậm rãi khuấy ly cà phê rồi hỏi: "Cậu gặp trên đoạn đèo dốc sương mù phải không?" Tôi gật đầu. "Áo tơi nâu, nón cối, tay giơ lên?" Tôi đáp: "Đúng người đó."
"Thế cậu có dừng không?"
"Dạ không. Có người trên bộ đàm bảo tôi đừng dừng."
Bác tài già ngước lên nhìn tôi, ánh mắt mệt mỏi của người đã đi quá nửa đời người. Ông nói: "Cậu cao số đấy. Lão ta thường hiện ra vẫy những gã tài xế non gan, dụ họ tấp vào lề ở những khúc cua tử thần. Kẻ nào dừng lại, thường không giữ được mạng để thấy mặt trời mọc. Còn kẻ nào không dừng... ắt sẽ nghe thấy giọng nói kia. Lần nào cũng thế, cùng một giọng nói."
Tôi hỏi giọng nói đó là của ai. Bác già nhún vai: "Chắc là một đồng nghiệp tài xế cũ nào đó thôi. Người đã nằm lại trên cung đường này trước cả anh và tôi. Một người rành rẽ con đường âm phủ này."
Về sau tôi cất công tìm hiểu. Năm 1983, công an từng phát hiện một tài xế xe tải chết gục trên vô lăng ở ngay khúc đèo đó. Không có dấu hiệu án mạng, không bệnh tật, cứ như đậu xe lại, khóa cửa rồi ngủ thiếp đi vĩnh viễn. Trong hồ sơ có ghi chú, cách đó khoảng trăm mét trong bụi rậm, người ta tìm thấy xác một ông già mặc áo bảo hộ nâu, đội nón cối, không giấy tờ tùy thân, và cũng không rõ nguyên nhân cái chết. Vụ án vẫn bỏ ngỏ. Từ đó tới nay, tôi đã đi qua con đèo ấy cỡ bốn trăm bận, nhưng chưa bao giờ thấy lại cái bóng người ngược chiều đó. Chỉ có điều, tôi cấm kỵ chạy qua đèo sau nửa đêm. Và mỗi khi bộ đàm tự nhiên xè xè vang lên, tôi luôn làm đúng lời căn dặn, không bao giờ tò mò thắc mắc.
[KẾT TRUYỆN]
Kẻ ác tâm giăng bẫy mưu hại người, ắt vong linh vĩnh viễn đọa đày nơi sương lạnh. Kẻ đi đêm có mạng lớn, không bị che mắt ắt nhờ giữ được tâm vững vàng. Phàm là người dương thế, đi đường đêm tối phải biết kiềm chế bản ngã, đừng vì một phút tò mò hay bực tức mà bước chân vào cửa tử. Phúc họa trên đời, đôi khi nằm ở sự biết lắng nghe một lời khuyên chân thành từ cõi vô hình. Gieo nhân kiên định, ắt gặt quả bình an.
[PART 2/3]
*** TRUYỆN THỨ HAI: NGÔI NHÀ TRONG SƯƠNG ĐÊM RỪNG CAO SU ***
Bóng nhà ngói cổ ẩn hiện giữa màn sương, ánh đèn vàng hiu hắt vẫy gọi lữ khách qua đường cất bước nương nhờ. Đâu ai biết đằng sau cánh cửa yên bình ấy là tro tàn của một môn hộ chết thảm, nơi những linh hồn chết oan vẫn bám víu vào nhân thế để đòi lại một tiếng khóc than...
Câu chuyện tiếp theo là của chị Duyên. Duyên từng chạy xe tải đôi với chồng suốt chục năm trời, cho đến khi anh mất. Sau đám tang, chị vẫn tiếp tục ôm vô lăng chạy sô lô, bởi chị bảo con đường là nơi duy nhất khiến chị cảm thấy như đang ở nhà.
Chuyện xảy ra ở vùng Đông Nam Bộ, trên một con đường tỉnh lộ hẹp mà chị đi tắt để giao gấp lô hàng phụ tùng ô tô vào khu công nghiệp. Chị đã lái liên tục bốn tiếng đồng hồ xuyên qua màn đêm của những cánh rừng cao su bạt ngàn. Đêm ấy sương mù giăng thấp lè tè trên mặt lộ, ướt sũng, tiếng ve sầu kêu u uất, rền rĩ đến mức đóng kín cửa kính xe vẫn nghe mồn một.
Đâu đó khoảng 11 rưỡi đêm, chị chạy ngang qua một ngôi nhà nằm bên phải đường. Chị nhớ như in từng chi tiết bởi nó quá đỗi lạc lõng giữa chốn hoang vu này. Đó là một ngôi nhà ngói ba gian bằng gỗ, quét vôi trắng toát, hắt sáng lờ mờ trong sương. Trươc nhà có hiên rộng với một cái xích đu đong đưa. Một ngọn đèn vàng duy nhất thắp sáng chống lại màn đêm đặc quánh. Chị Duyên kể: "Chú ạ, lúc đó tôi thầm nghĩ, ai mà cất nhà ở đây thanh bình quá. Yên tĩnh, đẹp đẽ, cô lập. Nếu được, tôi cũng muốn dọn về một nơi như thế."
Chị tiếp tục nhấn ga. Khoảng bốn mươi phút sau, cái ứng dụng bản đồ quái quỷ trên điện thoại dẫn chị đâm thẳng vào một con đường cụt, phía trước là cây cầu gãy đã rào chắn. Chạy đường tắt xuyên rừng bằng vệ tinh đôi khi rước họa là vậy. Chị tìm một bãi đất trống đổ sỏi, de chiếc xe tải nặng nề quay đầu lại. Chị mở quyển bản đồ giấy nhàu nát ra dò đường, rồi chạy ngược lại lối cũ. Chị đinh ninh thể nào cũng sẽ đi ngang qua ngôi nhà ngói trắng nằm bên tay trái lúc nãy.
Nhưng không có gì cả. Chị chạy qua đúng đoạn đường đó. Vẫn những hàng cây cao su thẳng tắp. Vẫn sương mù ướt sũng. Vẫn tiếng ve sầu kêu nỉ non. Tuyệt nhiên không có ngôi nhà ba gian nào, không có lối rẽ, không hòm thư, không ánh đèn hiên. Chỉ có những gốc cao su sần sùi cắm rễ sát tận lề đường.
Chị giảm tốc độ. Chị đạp phanh dừng hẳn lại. Chị de xe lùi lại nửa cây số, căng mắt nhìn bên trái, bên phải. Hoàn toàn trống trơn. Chị ngồi trong chiếc xe nổ máy giật cục suốt mười phút đồng hồ, tự hỏi liệu nỗi đau mất chồng có làm mình sinh hoang tưởng hay không.
Sáu giờ sáng hôm sau, giao hàng xong, chị chạy lại đúng con đường ấy lần thứ ba giữa ban ngày, khi nắng gắt đã đốt cháy lớp sương mù trên mặt nhựa đường. Không có căn nhà nào hết. Không có cả một bãi đất trống hay khoảng lùi nào giữa hàng cây để cất một ngôi nhà.
Cách đó mười cây số, chị tấp vào một cây xăng cũ kỹ, loại chỉ có một cột bơm gỉ sét. Chị bước vào mua ly cà phê, làm ra vẻ bâng quơ hỏi ông cụ bán hàng xem quanh đoạn đường vừa rồi có ngôi nhà ngói ba gian quét vôi trắng nào có chiếc xích đu trước hiên không.
Ông cụ sững người lại. Ông đặt miếng giẻ lau bàn xuống, nhìn chằm chằm chị một lúc lâu rồi hỏi: "Cô dạo qua đó lúc mấy giờ đêm?"
"Dạ, khoảng 11 rưỡi," chị đáp.
Ông cụ gật đầu, như thể đã đoán trước được câu trả lời. Ông trầm giọng: "Ngôi nhà ấy cháy rụi vào tháng Mười Một năm Mậu Thân 1968 rồi cô ạ. Cháy rụi cả nhà bốn người bên trong. Cha, mẹ và hai đứa con gái nhỏ. Chẳng phải tai nạn gì đâu, nhưng đến giờ cũng chưa bắt được hung thủ."
Chị Duyên nghe ruột gan lộn nhào. "Thế sao tôi lại thấy nó?"
Ông cụ nhún vai, nụ cười buồn bã hằn nếp nhăn. "Cô không phải người đầu tiên đâu. Cứ đôi ba năm lại có một tài xế ghé đây hỏi tôi cùng một câu như vậy. Toàn loanh quanh thời điểm này trong năm. Toàn từ 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng. Tôi không biết tại sao nó lại hiện ra, cũng không biết tại sao nó lại chọn người để cho thấy. Nhưng nếu là tôi, đêm nay tôi sẽ thắp nhang hoặc niệm Phật cầu siêu cho gia đình họ. Tôi đoán đó là tất cả những gì họ đang cầu xin."
Chị Duyên uống cạn ly cà phê, lên xe và làm đúng như lời ông cụ dặn. Chị niệm Phật cho gia đình xâu số ấy suốt chặng đường dài hàng trăm cây số về nhà. Chị thề không bao giờ đi đường tắt qua khu rừng ấy nữa. Không phải vì chị sợ ngôi nhà ma, mà vì chị sợ chính bản thân mình sẽ không kìm được mà dừng xe lại nếu thấy nó lần nữa. Và dừng xe lại, ông cụ dặn, là điều tuyệt đối cấm kỵ.
[KẾT TRUYỆN]
Ác nghiệp thiêu rụi cả một gia đình, uất khí oan khiên không tan đọng lại thành ảo ảnh vắt ngang hai thế kỷ. Âm hồn dẫu vương vấn cõi trần, tạo ra ảo ảnh dọa người, thực chất cũng chỉ mong mỏi một lòng xót thương, một lời cầu siêu để được siêu thoát. Cõi đời này, đi ngang chốn uất khí, nảy sinh lòng từ bi, nán lại tụng một chặng kinh, ấy là cách hóa giải nhân quả tốt nhất. Trân trọng cõi âm, cõi âm khắc nhường đường.
*** TRUYỆN THỨ BA: BA TIẾNG GÕ CỬA Ở TRẠM DỪNG CHÂN HOANG ***
Trạm gác hoang vu, góc rừng tịch liêu, nơi những bức tường ám khói tàng trữ âm khí kinh người. Những xác vong nhân chết cháy chưa siêu thoát vẫn rình rập trong bóng đêm dật dờ. Tiếng gõ cửa điểm canh ba vang lên, hãy cẩn thận, bởi kẻ đứng gọi chưa chắc đã là người dương...
Tiếp đến là chuyện của anh Mạnh. Mạnh là một tay to con gốc Bắc, dân từng tập tạ chục năm nay. Hạng người như anh hiếm khi sợ hãi điều gì. Anh chuyên chạy xe tải hạng nặng, kéo những rơ-moóc chở thép cuộn nguyên khối. Anh kể tôi nghe chuyện này khi đang ăn trứng ốp la ở một trạm dừng nghỉ trên quốc lộ, nhưng suốt buổi anh hầu như không nuốt nổi miếng nào. Tài xế mà bỏ bữa sáng, nghĩa là linh hồn anh ta vẫn đang kẹt lại trong chính câu chuyện ám ảnh mà anh ta sắp kể.
Hôm đó Mạnh kéo cuộn thép từ Thái Nguyên đi vào miền Trung. Xe vừa cạn giờ chạy hợp lệ theo quy định thì anh thấy biển báo một trạm dừng chân cũ rích nằm hẻo lánh trên đèo. Anh tấp vào, định chợp mắt cho đủ giấc rồi hửng sáng đi tiếp. Đây là loại trạm dừng bỏ hoang, nhà nước không ngó ngàng từ những năm 80. Chỉ có một cái khối nhà cấp bốn tróc lở, hai cái máy bán nước han gỉ, và mười hai ô đậu xe tải mọc đầy cỏ dại lút cả mắt cá chân. Lúc anh đậu xe là 11 giờ đêm. Có hai chiếc xe tải khác cũng đang đỗ ở đó, tối om, kéo rèm kín bưng, tài xế chắc đang ngủ say. Mạnh đi một vòng kiểm tra lốp, leo lên cabin, kéo rèm buồng ngủ và ngáy o o chỉ sau mười phút.
Anh không biết lúc ấy là mấy giờ. Điện thoại đang cắm sạc trên taplo, anh thì lười chui ra khỏi chăn để xem, nhưng đoán chừng cỡ 2 đến 3 giờ sáng. Thứ đánh thức anh dậy là một âm thanh.
Ba tiếng gõ chậm rãi vào cửa xe bên ghế phụ.
Cộc. Cộc. Cộc. Tiếng gõ bằng khớp ngón tay, nhẹ nhàng nhưng có chủ đích. Nghỉ một nhịp, rồi lại ba tiếng gõ nữa.
Mạnh kể lại: "Nói thật, suy nghĩ đầu tiên của tôi không phải là sợ ma. Tôi nghĩ chắc xe ông nào đó hết bình, qua gõ cửa xin đấu điện câu nổ. Tôi to khỏe thế này, sợ chó gì mấy tiếng gõ cửa ban đêm."
Nghĩ vậy, anh hé tấm rèm cửa sổ bên phụ ra một khe nhỏ, đủ để ghé mắt nhìn xuống. Dưới đất, đứng sát vách xe là một người phụ nữ. Cô ta mặc bộ đồ blouse xanh nhạt của y tá bệnh viện, trước ngực có kẹp một cái thẻ nhân viên. Tóc cô ta ướt sũng nước, rũ rượi, xõa ốp chặt vào mặt như thể vừa ngoi lên từ dưới đáy sông. Hai cánh tay cô ta buông thõng xuống dọc theo đùi, bất động hoàn toàn.
Đầu cô ta ngẩng lên, đôi mắt trừng trừng nhìn thẳng vào khe rèm nơi Mạnh đang rình. Cô ta không có cách nào biết được anh đang nhìn, vì rèm kéo kín lắm. Khuôn mặt ấy cứng đờ, không chớp mắt, không thay đổi lấy một nét biểu cảm.
Mạnh vẫn chưa sợ. Anh chỉ thấy hoang mang tột độ. Trong bãi đỗ xe hoang vu này đào đâu ra xe con? Bán kính ba chục cây số quanh đây làm quái gì có cái trạm xá hay bệnh viện nào? Và lý do gì một nữ y tá ướt sũng nước lại đứng rình cạnh xe anh lúc 2 giờ sáng giữa đỉnh đèo?
Anh không hạ kính xuống. Anh nín thở, im lặng quan sát cô ta. Cô ta cũng trừng trừng nhìn lại. Quãng mười giây trôi qua như thế kỷ, người phụ nữ từ từ nhấc cánh tay phải lên, chậm rãi gõ vào cửa xe lần nữa.
Cộc. Cộc. Cộc. Ba tiếng chậm rãi. Cùng nhịp điệu. Cùng một vị trí.
Chính khoảnh khắc đó, não Mạnh nhận ra một sự thật kinh hoàng, thứ mà anh thề là đã làm mình tổn thọ mất mười năm.
Nãy giờ, cả hai cánh tay của cô y tá kia vẫn luôn buông thõng bất động. Vậy thì... kẻ vừa gõ cửa đánh thức anh dậy TRƯỚC KHI cô ta nhấc tay lên... không phải là cô ta.
Mạnh buông rèm rơi cái oạch. Anh trườn thẳng lên ghế lái, nhẹ nhàng nhất có thể. Anh vặn chìa khóa nổ máy ầm ĩ mà không thèm chờ bơm hơi, không thèm bật đèn pha, không thèm cài dây an toàn. Chiếc xe tải chồm lên, lao vọt ra khỏi bãi đỗ. Khi kịp liếc nhìn gương chiếu hậu, người phụ nữ đã biến mất. Hai chiếc xe tải kia vẫn tối om, rèm kéo im lìm. Mạnh lầm bầm: "Tôi không biết mấy tay tài xế kia có đang ngủ không, hay họ còn sống hay đã chết nữa."
Mạnh cắn răng chạy thâu đêm bạt mạng. Về đến nhà, anh lướt mạng tìm hiểu về cái trạm dừng chân đó. Hóa ra trên các diễn đàn từ giữa thập niên 90, có hàng chục tài xế đã trải qua chuyện y hệt: Nữ y tá áo xanh, tóc ướt, ba tiếng gõ cửa chậm rãi bên ghế phụ lúc 2 đến 3 giờ sáng. Không ai biết cô ta là ai. Chỉ biết, cách trạm dừng đó mười lăm cây số về phía Bắc, từng có một cái bệnh viện tuyến huyện. Năm 1987, khu phẫu thuật bị chập điện cháy rụi, thiêu chết bốn nhân viên y tế và hai bệnh nhân. Hồ sơ vụ cháy bị niêm phong kín.
Từ bận ấy, Mạnh cạch đến già, không bao giờ ngủ đêm ở những trạm dừng không người. Thà ăn biên bản phạt lấn chiếm lề đường ở đường dẫn cao tốc, ít ra có mấy anh cảnh sát giao thông tới gõ cửa, còn hơn là phó mặc mạng sống cho những thế lực trong bóng tối.
[KẾT TRUYỆN]
Người chết cháy tột cùng đau đớn, uất hận không siêu thoát hóa thành quỷ dạ xoa lảng vảng nơi hoang vắng, rình rập tìm kẻ thế mạng. Đêm đen cõi âm có luật, người dương chớ dại tò mò. Có những cánh cửa vĩnh viễn không được phép mở, bởi gieo nhân tò mò phản ứng lại sẽ gặt quả mất mạng, oán khí theo tận vào đường trần. Biết sợ hãi điều cấm kỵ chính là bùa hộ mệnh an toàn nhất cho kẻ độc hành.
[PART 3/3]
*** TRUYỆN THỨ TƯ: LẠC VÀO CON ĐƯỜNG ÂM PHỦ ***
Rừng thiêng nước độc, ma đưa lối quỷ dẫn đường. Có những con đường dương gian không ai đắp, nhưng cõi âm lại dọn dẹp sạch sẽ để nghênh đón kẻ tò mò. Bước nhầm một nhịp vào nẻo cụt, ngày về e rằng chỉ còn là nắm tro tàn...
Người tài xế thứ tư có biệt danh trên bộ đàm là Ân "Trọng Tải", chuyên lái xe ben rơ-moóc thùng siêu trường siêu trọng. Tôi biết Ân đã mười lăm năm, gã không bao giờ ba hoa chuyện ma cỏ, nên khi gã kể chuyện này hồi mùa xuân năm ngoái, tôi tin sái cổ.
Chuyến đó, Ân chở một dàn máy khai thác mỏ đi sâu vào vùng núi Tây Bắc, men theo tuyến đường nhựa cũ mòn, lồi lõm rễ cây. Cây rừng mọc rạp xuống đan thành một mái vòm tối om che khuất cả ánh nắng giữa trưa.
Cái điện thoại cài app bản đồ của Ân bị chập cheng cả ngày. Nó cứ liên tục tính toán lại tuyến đường, giục gã rẽ vào những con đường nhánh bé tí tẹo mà xe tải lớn không tài nào lọt qua. Có lúc nó còn hiện cái chấm xanh báo gã đang lái xe lặn dưới lòng hồ thủy điện, trong khi bốn bánh xe vẫn đang lăn trên mặt đường nhựa khô ráo. Ân kệ, lên núi mất sóng GPS loạn là chuyện thường.
Nhưng khi mặt trời rụng xuống gầm núi, gã đi sâu hơn vào thung lũng, bản đồ lại càng điên loạn. Chín giờ tối, gã đối mặt với một ngã ba không hề có trên tuyến đường. Một con đường nhựa hẹp rẽ thẳng vào cánh rừng bên phải. Ảo trên điện thoại gào thét bắt gã rẽ vào đó, dù lộ trình giấy rõ ràng yêu cầu đi thẳng.
Ân đạp phanh, để máy nổ xình xịch chừng một phút. Gã bảo: "Sợ không phải vì con đường. Sợ vì chỗ đó không có lấy một tấm biển báo nào. Không biển chỉ dẫn, không tên xóm, không gì cả. Chỉ có vệt đường nhựa đâm thẳng vào gốc cây đen ngòm. Ở xứ đèo núi này, đường hẻm cỡ nào cũng phải có cọc tiêu hoặc biển báo. Luật nó thế."
Gã cứng đầu nhấn ga đi thẳng. Cái điện thoại rú lên bắt gã quay đầu. Nó rú suốt hai mươi cây số. Rồi đột nhiên, màn hình tắt phụt. Vài giây sau nó bật lên, báo hiệu gã đang ở một thị trấn lạ hoắc cách đó tận ba mươi bảy cây số về phía Nam, trên một con đường không có tên trong bất kỳ bản đồ nào.
Ân tấp xe vào lề, tắt máy, ngồi im trong bóng tối lắng nghe sự tĩnh lặng của núi rừng. Ai đi rừng đêm mới hiểu cái sự tĩnh lặng ấy kinh hoàng cỡ nào. Nó không phải là im ắng, mà là sự biến mất hoàn toàn của mọi âm thanh sự sống. Không tiếng dế, không gió thổi, không động tĩnh gì sất.
Đang lúi húi gõ màn hình thì cái bộ đàm CB tự động bật kêu rẹt rẹt. Không thể nào, vì gã đâu có chạm tay vào mic. Một giọng nói vô hồn, chậm chạp, ngang phè như máy đọc từ cuốn danh bạ điện thoại cất lên. Nó đọc một dãy số dài ngoằng. Ân cuống cuồng vơ vội tờ biên lai đổ dầu trên taplo, cắm đầu ghi chép lại. Dãy số quá dài để là tọa độ địa lý, nhưng lại quá có quy luật để là âm thanh nhiễu sóng. Cái giọng đọc ròng rã suốt nửa phút rồi tắt tịt.
Về sau, Ân cũng tìm được đường ra và giao hàng trễ ba tiếng. Chuyện đó thì bình thường. Nhưng một tháng sau, gã chạy đúng chuyến hàng đó theo chiều ngược lại. Khi đi ngang qua tọa độ nơi từng có cái ngã ba không biển báo... không có ngã ba nào cả. Chỉ có vách núi và hàng cây sừng sững. Không có dấu vết của vệt đường nhựa nào rẽ vào rừng. Gã dừng xe, lội bộ dọc lề đường cả trăm mét giữa ban ngày ban mặt để tìm kiếm. Vô vọng.
Về đến nhà, Ân đưa tờ biên lai ghi dãy số cho cậu con trai làm kỹ sư công nghệ. Cậu con trai vò đầu bứt tai một lúc rồi tái mặt: "Bố ơi, đây không phải tọa độ. Đây là mã thời gian, định dạng ngày giờ. Nhưng các mốc năm bị sai. Chúng toàn nằm ở tương lai."
Ân hỏi tương lai là bao lâu. Cậu con trai rùng mình: "Có cái năm sau. Có cái hai chục năm nữa. Và có một dòng... là đúng ngày sinh nhật của bố."
Đến giờ, Ân vẫn kẹp tờ biên lai đó sau tấm chắn nắng. Gã vẫn chạy tuyến đường đó mỗi tháng. Gã không bao giờ nói cho tôi biết dòng ngày tháng nào ghi cạnh sinh nhật gã, và tôi cũng chẳng dám hỏi, vì có những bí mật âm phần tốt nhất không nên biết. Dân bản địa đồn rằng, có những con đường mỏ than "biết đi". Chúng hiện ra trong đêm để dẫn dụ người ta đi vào cõi chết. Người Thái gọi đó là ranh giới âm dương bị bào mòn. Ân giờ đây luôn bật bộ đàm và không bao giờ rẽ vào đường không biển báo, mặc kệ cái bản đồ điện thoại gào thét thế nào.
[KẾT TRUYỆN]
Cõi âm huyền bí, thấu tỏ thiên cơ nhưng cũng đầy rẫy hiểm nguy rình rập để đoạt mạng sống. Đạo làm người dương, chớ bước vào nẻo cụt, chớ rẽ vào đường u mê do ma quỷ dọn sẵn. Giữ tâm sáng suốt, tuân theo luật trần gian, ác ma thấy kẻ vững vàng tự khắc lui bước. Nhận được thiên cơ không phải để kiêu ngạo, mà để biết sợ hãi định mệnh và sống thận trọng hơn từng ngày.
*** TRUYỆN THỨ NĂM: TIẾNG KHÓC TRẺ THƠ TRÊN ĐỒI CÁT ***
Những dải cát cháy thiêu rụi sinh mệnh kẻ tha hương, bỏ lại những oan hồn nhỏ bé vật vờ khát nước. Tiếng khóc trẻ thơ lanh lảnh giữa đêm thanh vắng nghe xé ruột gan, nhưng lữ khách chớ dại mà ngoái đầu đáp lời, kẻo dương khí bị rút cạn không còn đường về...
Chuyện thứ năm kể về Cường, một tài xế trẻ mới vào nghề được ba năm. Cậu chở hàng khô chạy dọc tuyến duyên hải miền Trung đoạn qua Bình Thuận, hướng về các tỉnh phía Nam. Nửa đêm, xe chạy qua dải đồi cát mênh mông vắng ngắt. Xung quanh chỉ có cát trắng, những hàng quạt điện gió khổng lồ quay vù vù trong bóng tối, và vài cái quán nước xập xệ đóng cửa từ lâu.
Ngoài xe Cường, chẳng có tia sáng đèn pha nào khác. Cậu mở radio nghe vài bản nhạc vàng bolero sầu thảm mà ông nội hay nghe để chống buồn ngủ, tay tu lon bò húc lạnh ngắt, nhẩm tính từng cột cây số.
Đó là lúc Cường nghe thấy nó. Tiếng trẻ con khóc.
Cậu kể: "Lúc đầu, em tưởng gió rít khe cửa. Gió biển thổi qua đồi cát ban đêm nghe rợn lắm. Nhưng cửa kính xe em đóng kín bưng, máy lạnh chạy ù ù. Âm thanh đó... phát ra từ bên trong xe."
Cường vặn nhỏ radio. Tiếng khóc rõ dần. Léo nhéo, nấc nghẹn, theo nhịp điệu mệt mỏi của một đứa bé đã gào khóc quá lâu đến cạn kiệt sinh lực. Cậu bấu chặt tay lái tới mức trắng bệch các khớp ngón tay. Cậu bắt đầu lảm nhảm đọc to biển số nhà, đếm cọc tiêu cốt để nghe thấy tiếng người sống vang lên lấn át cái thứ rùng rợn kia.
Tiếng khóc dường như hắt ra từ cái khoang giường nằm ngay sau lưng ghế lái. Nhưng cứ mỗi lần Cường lấy can đảm liếc nhìn qua gương chiếu hậu trong ca-bin, khoang giường trống không. Rèm được vén gọn. Chăn màn phẳng phiu.
Chịu đựng màn tra tấn tâm lý suốt mười phút, Cường không chịu nổi nữa. Cậu hét toáng lên: "Ai đấy? Trêu chọc gì, muốn gì hả?"
Tiếng khóc tắt phụt. Bị cắt ngang giữa một tiếng nấc nghẹn, giống như ai đó vừa bấm nút dừng đĩa hát.
Ngay sau đó, một giọng nói thều thào, mỏng dính của một bé gái vang lên sát sạt ngay đằng sau tai phải của Cường:
"Cháu lạnh."
Cường cắn bật máu môi tự dặn mình tuyệt đối không được đạp phanh. Cậu thề có chết cũng không dừng xe. Không đổ xăng, không đi vệ sinh, không làm gì hết cho tới khi thấy bóng dáng nhà dân có điện sáng. Cậu bật tung cái đèn trần ca-bin lên cho sáng rực. Cậu điên cuồng vọt qua ba trạm dừng nghỉ mà không giảm ga.
Cậu không nghe thấy giọng nói kia nữa. Nhưng chạy được một đoạn, Cường cảm nhận rõ ràng có một thứ gì đó áp nhẹ lên phía sau vai phải của cậu. Lạnh ngắt. Bằng cỡ bàn tay của một đứa trẻ. Cậu không ngoái lại. Cậu ngồi đơ như tượng đá, tiếp tục lái xe. Cảm giác áp bức buốt giá đó kéo dài suốt chục cây số rồi mới dần tan biến.
Gần sáng, khi vào đến bãi đỗ xe sáng đèn của một trạm xăng lớn, Cường ngồi gục trên vô lăng cả tiếng đồng hồ mới dám lết ra sau kiểm tra buồng ngủ. Chẳng có gì ở đó cả. Trừ việc chiếc gối nằm của cậu sũng nước. Nó lõm xuống, y hệt như có một cái đầu ướt nhẹp vừa gối lên đó cả đêm. Cậu lợm giọng, lột sạch chăn ga gối ném thẳng vào thùng rác trạm xăng rồi mua bộ mới toanh.
Về thăm nhà, Cường kể lại cho bà nội nghe. Bà móm mém nhai trầu, vái lạy lầm rầm rồi thở dài bảo: Đoạn đường đó ngày xưa, hồi chiến tranh, là tuyến đường tản cư trốn chạy của biết bao nhiêu người. Khát nước, chết cháy dưới cái nắng sa mạc. Xác trẻ con vùi lấp dưới cát không đếm xuể. "Đất hoang không bao giờ quên những vong linh chết oan," bà nói. Bà thỉnh cho cậu một lá bùa bình an bọc nilon, dặn đi đoạn đó ban đêm phải cài ở túi áo ngực. Từ đó Cường không còn nghe tiếng trẻ con khóc nữa. Nhưng cậu cạch mặt không bao giờ tắt đèn trần ca-bin. Cậu biết bóng tối là thứ vong hồn đó thèm khát, và cậu kiên quyết không nhượng bộ cõi âm.
[KẾT TRUYỆN]
Cõi trần chiến loạn khắc nghiệt, gieo mầm cái chết đau đớn cho sinh linh bé nhỏ, để lại oán khí ngút trời không tan. Vong linh trẻ thơ ngây dại bám víu dương khí để xua cái lạnh lẽo dưới mồ sâu. Người sống dẫu tâm thiện, nhưng chớ tùy tiện bố thí dương khí cho âm hồn kẻo hao mòn mạng cốt. Đạo làm người, trang bị bùa chú bình an, dùng ánh sáng xua tan tà niệm, ấy là cách người dương tự bảo vệ mình trước luật vay trả của âm dương.
*** TRUYỆN THỨ SÁU: VỊ KHÁCH ĐI NHỜ TRÊN ĐƯỜNG QUÊ VÀ LỜI TIÊN TRI ***
Có những cuốc xe đêm không dành để chuyên chở người sống. Vị khách lên xe mang theo luồng khí lạnh ngắt cửa mả, nhưng lại cất giấu thiên cơ về sinh ly tử biệt. Người tốt ắt có quỷ thần chỉ đường...
Câu chuyện cuối cùng là của ông Văn, một tài xế già đã ngoài bảy mươi mà tôi tình cờ gặp chiều mưa ở quán nước ven quốc lộ miền Tây. Giọng ông khàn đặc như tiếng gạch vụn nghiến trên mặt đường. Chuyện của ông xảy ra từ tận năm 1986. Thời đó làm gì có điện thoại di động hay bản đồ số, chạy xe đêm là cô độc đến tận cùng thế giới.
Đêm đó, ông Văn lái xe bồn chở sữa bò từ nông trại đi giao cho nhà máy chế biến. Tuyến đường chạy xuyên qua những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay ở miền Tây Nam Bộ, vắng vẻ đến rợn người. Chạy nửa tiếng đồng hồ mới thấy vài ba bóng đèn hột vịt le lói của các chòi canh vịt.
Và ông Văn đã cho một người đi nhờ xe. Ông già kể luôn: "Cậu thanh niên, tôi biết cậu đang nghĩ gì. Luật tài xế đường dài là cấm kỵ đón khách giữa đường đêm. Tôi cũng vậy. Trước đêm đó tôi chưa từng, và sau đêm đó tôi cũng cạch đến già. Nhưng cái ông khách này... khác lắm. Cậu có tin hay không thì nó vẫn là sự thật."
Người đàn ông đó đứng ngay ngã ba đường đất giao với đường rải đá dăm. Một chỗ khỉ ho cò gáy không có bóng nhà dân. Ông lão trạc sáu nhăm tuổi, mặc bộ đồ suit cũ màu nâu kiểu mấy ông công chức thời xưa, tay phải xách một chiếc vali da sờn rách loại hay xách đi tàu hỏa. Lão không vẫy xe. Lão không thèm nhìn ánh đèn pha chiếu tới. Lão chỉ đứng nghiêm trang sát lề đường, mặt hướng về phía ngã tư, cái tư thế của một kẻ chờ đợi một cuộc hẹn đã được sắp đặt từ trước.
Ông Văn không hiểu ma xui quỷ khiến thế nào lại đạp phanh. Trong số hàng trăm kẻ vẫy xe đi nhờ đầy khả nghi, ông lại thấy bộ dạng ông lão xách vali giữa đêm lúc 1 giờ sáng này toát ra một vẻ bình thản đến lạ lùng. Ông tấp xe bồn lại. Ông lão thong thả bước đến cửa bên phụ, mở cửa trèo lên ghế mà không nói một lời. Lão kẹp chiếc vali da giữa hai chân, đóng cửa cái rầm rồi nhẹ nhàng nói: "Cảm tạ chú em. Tôi đi một cuốc ngắn thôi."
Ông Văn vào số cho xe lăn bánh. Ông kể rằng cái ca-bin xe tải lúc đó tụt nhiệt độ lạnh cóng. Không phải kiểu lạnh do gió lùa hay máy lạnh. Cái lạnh đó giống y chang lúc cậu bước ngang qua cái tủ đông mở toang trong siêu thị. Ông Văn với tay vặn quạt sưởi lên hết cỡ, nhưng ông lão kia mặt không biến sắc, cứ như không cảm nhận được nóng lạnh.
Họ ngồi im lặng suốt mười phút. Cuối cùng, không chịu nổi cái không khí ngột ngạt, ông Văn mở lời hỏi ông lão định đi tới đâu. Lão già mắt vẫn nhìn chằm chằm ra kính chắn gió, nhả từng chữ: "Cứ đi tới trước một đoạn. Tới nơi tôi tự khắc biết."
Đó là lúc ông Văn bắt đầu vã mồ hôi hột. Khúc đường phía trước làm gì có cái gì? Ông chạy bao năm ông rành quá. Hai mươi cây số tới không có nhà, không có trạm xăng, không có gì ngoài ruộng lúa hai bên bờ và vệt vôi trắng kẻ đường trôi qua dưới ánh đèn pha. Lại cố nặn ra chuyện để nói, ông Văn hỏi tiếp xem lão từ đâu đến.
Ông lão im lặng một lúc lâu, rồi đáp: "Từ một nơi mà tôi không mong mình sẽ phải quay lại."
Ông Văn nín bặt. Chạy thêm mười lăm phút nữa trong im lặng, đột nhiên ông lão cất giọng: "Văn à, con gái của chú sẽ bình an vô sự thôi."
Hai tay ông Văn co rúm lại, bấu chặt lấy vô lăng. Ông chưa hề giới thiệu tên mình. Ông cũng chưa hề hé răng một lời nào về chuyện gia đình. Con gái ông, đứa con duy nhất năm đó mười sáu tuổi, đang nằm liệt ở nhà sau một tai nạn xe máy cách đó ba hôm. Con bé vừa được xuất viện về nhà sáng hôm đó ngay trước khi ông lên xe đi chở sữa.
Không một thế lực trần gian nào có thể cho ông lão này biết thông tin đó.
Ông Văn run rẩy: "Ông... ông là ai? Sao biết tên tôi?"
Ông lão không đáp. Lão cứ nhìn thẳng về phía trước cõi mù mịt. Một lát sau, lão thủng thẳng nói tiếp với tông giọng rất dịu dàng: "Cái chân con bé sẽ hơi thọt một chút tới hết đời. Nhưng nó sẽ lấy được một người chồng tử tế. Nó sẽ sinh cho chú hai đứa cháu, một trai một gái. Đứa cháu gái sẽ mang tên của người mẹ quá cố của chú. Đừng lo cho con bé nữa. Nó đã bước qua khúc tồi tệ nhất rồi."
Ông Văn đầu óc trống rỗng, không biết phải phản ứng ra sao. Ông cắm mặt lái xe. Chạy thêm dăm cây số nữa, ông lão vỗ nhẹ táp lô: "Tới chỗ này là được rồi. Cho tôi xuống ở cây xăng bên phải phía trước kia đi."
Ông Văn ngước mắt lên. Đào đâu ra cây xăng nào ở đây? Nhưng khi xe vừa ôm một cua nhẹ, đèn pha bỗng quét trúng một căn nhà nhỏ thụt sâu vào trong ruộng. Một trạm xăng cổ lỗ sĩ chỉ có một trụ bơm tay, tấm biển vẽ tay mờ tịt và một bóng đèn hột vịt vàng vọt treo ngoài hiên. Ông Văn thề là đời ông chưa từng nhìn thấy nó, và cũng không bao giờ tìm lại được nó trong suốt ba mươi tám năm ròng rã chạy xe qua con đường ấy sau này.
Ông tấp xe vào lề. Ông lão nhấc chiếc vali da, mở cửa bước xuống nền đá dăm. Trước khi sập cửa lại, lão nán lại, ngước nhìn ông Văn qua ô cửa kính và nói câu cuối cùng:
"Văn này, vợ chú sẽ ra đi trước chú. Rất lâu nữa. Vào tháng Mười, năm chú tròn sáu mươi tám tuổi. Đi lẹ lắm, và thím nhà sẽ không thấy đau đớn hay sợ hãi gì đâu. Lúc đó hãy ở bên cạnh bà ấy, và nói những lời chú cần nói. Đó là tất cả những gì tôi đến đây để nhắn nhủ."
Nói đoạn, lão sập cửa xe, quay lưng lững thững bước vào khoảng tối đen như mực sau lưng cây xăng ma. Ông Văn ngồi hóa đá trên ghế lái, máy vẫn nổ xình xịch, tay run bần bật suốt hai chục phút mới dám cài số bỏ chạy.
Chuyến đó về, ông Văn ngồi đối diện vợ ở bàn ăn và kể hết mọi sự, vì ông không gánh nổi nỗi sợ hãi ấy một mình. Bà vợ im lặng nghe. Xong xuôi, bà tiến tới hôn lên trán ông và cấm ông từ nay về sau tuyệt đối không được cho ai đi quá giang nữa. Ông tuân lệnh răm rắp.
Con gái ông bình phục. Con bé đi hơi tập tễnh y như lời tiên tri. Năm 1993, cô lấy một người đàn ông tử tế tên Thomas. Năm 1998, cô sinh đứa cháu gái và đặt tên là Margaret—tên mẹ của ông Văn—mà không hề biết rằng cái tên ấy đã được một ông khách mặc đồ nâu nhắc đến trên chiếc xe bồn chở sữa từ mười hai năm về trước.
Và tháng Mười năm 2017, năm ông Văn tròn sáu mươi tám tuổi, vợ ông qua đời. Chết rất nhanh, không kịp sợ hãi. Ông Văn đã ở bên giường bệnh, nắm tay bà và nói hết những lời từ tận đáy lòng, y như lời ông lão dặn dò.
Ông Văn chép miệng: "Cậu biết không, gần bốn chục năm qua ngày nào tôi cũng nghĩ về lão. Không biết lão là ai, là cái gì, tại sao lão lại đợi đúng tôi ở cái ngã ba ấy. Nhưng tôi tin chắc một điều. Lão hiện lên không phải để dọa ma, cũng chẳng phải để cảnh báo tai ương. Lão đến vì sự từ bi. Chắc bề trên thấy tôi sống hiền lành, nên cho phép tôi biết trước thiên cơ, để tôi khỏi phí hoài những năm tháng còn lại sống trong nơm nớp lo sợ. Đêm nào trước khi ngủ, tôi cũng lầm rầm khấn cám ơn lão trong đêm tối, lỡ như lão vẫn còn đi giang hồ trên những chiếc xe khác để rỉ tai an ủi những kẻ khốn khổ."
[KẾT TRUYỆN]
Nhân quả luân hồi, trọng chữ thiện, cả đời tích đức hành thiện tự khắc sẽ được cõi vô hình che chở. Con người sinh ra vốn mang số kiếp, người sống thiện lương ắt có quý nhân âm thầm độ mạng, kể cả là quỷ thần. Hiểu thấu thiên cơ, biết trước sinh ly tử biệt không phải để khiếp sợ, mà để rũ bỏ gánh nặng ưu tư, trân trọng từng phút giây còn được yêu thương trên cõi đời này. Ma quỷ không hẳn chỉ mang tới điều tà ác, có khi lại là sứ giả của luật trời mang đến lòng từ bi.

Nhận xét
Đăng nhận xét