Cõi âm u sương mù dày đặc, ranh giới giữa hai bờ sinh tử vốn chỉ mỏng tựa sợi tơ. Người xưa vẫn răn dạy rằng, chết không đúng thời, tử phạm giờ thiêng sẽ kéo theo tai ương khôn lường cho cả một dòng tộc, cõi người gọi đó là họa trùng tang liên tán. Một khi sợi xích oan khiên của cõi chết đã buông xuống, ác quỷ chốn địa ngục sẽ lần theo huyết quản mà tìm về, gieo rắc sự điên cuồng, oán hận và bẻ gãy từng sinh mạng trong đau đớn tột cùng. Câu chuyện quỷ dị dưới đây xảy ra tại một làng quê hẻo lánh vùng ven đô, nơi một ngôi nhà mới dựng lên khang trang nhưng lại chính là nơi chôn vùi cả một gia đình trong những nấm mồ nghiệt ngã.
Gia đình ông Bình là một gia đình có ba thế hệ sống nương tựa vào nhau, gồm bố ông Bình, vợ chồng ông và hai người con, một trai một gái. Bố của ông là cụ Chấn, còn mẹ của ông thì đã khuất từ lâu. Vì bản tính tự lập, không muốn làm phiền lụy đến con cháu nên cách đây vài năm, cụ Chấn đã quyết định dời ra dựng một căn nhà nhỏ ở ngay gần bến sông cạnh cây cầu đá. Tại đây, ngày ngày cụ làm công việc sửa xe và mở thêm một sạp tạp hóa nhỏ để kiếm đồng ra đồng vào nuôi thân. Căn nhà của ông Bình và cụ Chấn nằm cách nhau chẳng bao xa. Cuộc sống của ông Bình vốn gắn liền với những chuỗi ngày làm thuê làm mướn chịu thương chịu khó, ai mướn gì làm nấy, từ phụ hồ, đào đất lấp ao cho đến cấy cày mướn lúc vào vụ gặt để trang trải cuộc sống. Vợ ông Bình là bà Mận cũng tảo tần không kém, ngoài mấy sào ruộng khoán quanh năm, bà cũng theo chồng đi làm thuê làm mướn kiếm thêm chút tiền nuôi hai đứa con ăn học. Cuộc sống tuy có phần thắt lưng buộc bụng nhưng cũng đủ ấm êm cho bốn miệng ăn.
Sau nhiều năm tích cóp chắt chiu từng đồng tiền xương máu, vợ chồng ông Bình và bà Mận cũng cất dựng được một ngôi nhà ngói khang trang. Ngôi nhà mới ấy được ông Bình chọn xây ngay trên một khoảnh đất hoang nằm ở ngã ba đường. Khi mới khởi công, người già trong xóm ai nấy đều lên tiếng can ngăn, họ bảo thế đất này phạm vào đại kỵ phong thủy gọi là "thương sát", hệt như một mũi thương sắc nhọn đâm thẳng vào chính diện căn nhà. Hơn nữa, khoảnh đất đó lại nằm sát vách cây cầu đá cũ, nơi cầu cống bến sông vốn là chốn tích tụ âm khí lạnh lẽo của muôn vàn cô hồn, đất ấy dữ lắm, người sống ở không yên. Nhưng vốn mang tính bướng bỉnh và chẳng tin vào ba chuyện dị đoan, ông Bình quả quyết bảo đây là đất tổ tiên để lại nên gạt phắt mọi lời cảnh báo. Sau mấy tháng trời xây cất, ngôi nhà ba gian rộng rãi cũng hoàn thành, xóm giềng kéo sang chung vui mừng tân gia đông đúc. Ai cũng mừng cho hai vợ chồng sau bao năm cực khổ đã có được mái nhà trú mưa tránh bão, không còn phải sống trong gian nhà tranh dột nát, siêu vẹo thuở trước nữa.
Mọi chuyện cứ thế êm đềm trôi qua được hơn một năm trời, gia đình ông Bình sống bình yên vô sự dưới mái nhà mới. Cho đến một hôm, ông Bình được bà láng giềng thuê đi gieo mạ cuối đông. Tiết trời cuối năm lạnh thấu xương, người trong xóm đều ngại việc phải ngâm chân tay dưới làn nước giá buốt, nhưng ông Bình lại nhận làm vì mùa này người ta trả tiền công cao hơn hẳn ngày thường. Giữa lúc ông đang cúi rạp người hăng say quăng mạ dưới ruộng, bỗng từ đằng xa vang lên tiếng gọi giật giọng, hớt hải của bà Trâm – vợ người anh trai của ông Bình. Bà Trâm chạy thở không ra hơi, mặt cắt không còn giọt máu gào lên: "Bình ơi! Thằng Bình ơi! Con bé Hoa nhà mày không biết bị cái gì rồi kìa! Mày mau bỏ việc mà chạy về xem sao để còn kịp đưa nó đi nhà thương!" Nghe hung tin về đứa con gái nhỏ, ông Bình rụng rời chân tay, vội vã quăng nắm mạ nhảy lên bờ ruộng rồi cắm đầu cắm cổ chạy thẳng về nhà. Giữa cái lạnh căm căm của mùa đông, trên người ông chỉ vỏn vẹn độc một tấm áo mỏng đẫm mồ hôi lạnh.
Về đến sân nhà, ông Bình đập vào mắt là cảnh bà Mận đang ngồi bệt ngoài hiên khóc lóc thảm thiết, còn con bé Hoa thì nằm dài trên nền đất nguội lạnh. Toàn thân đứa con gái giật đùng đùng từng cơn, đôi mắt trợn ngược, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau lộc cộc, bọt mép sùi ra chảy đầy xuống đất nhầy nhụa, nhớp nhúa. Trông thấy cảnh tượng hãi hùng chưa từng gặp bao giờ, cả nhà ông Bình cuống cuồng hoảng loạn chẳng biết phải làm sao. Một lúc sau, thầy thuốc ở trạm xá xã cũng vội vã có mặt. Người y sĩ nhanh chóng rút ống tiêm chích cho con bé Hoa một mũi thuốc rồi nghiêm nét mặt bảo gia đình: "Người nhà mau sửa soạn quần áo đồ đạc rồi thuê xe chở cháu lên bệnh viện trên huyện ngay lập tức đi. Tôi vừa tiêm mũi thuốc kiềm chế cơn co giật tạm thời thôi, tình trạng này nguy kịch lắm, phải lên bệnh viện lớn để bác sĩ người ta khám xét theo dõi, lỡ có mệnh hệ gì còn cứu chữa kịp thời." Nghe lời dặn, vợ chồng ông Bình hồn bay phách lạc, vội vàng vơ nắm quần áo rồi bế con chạy thẳng lên bệnh viện huyện cách nhà hơn chục cây số. Sau khi thăm khám, bác sĩ giữ bé Hoa lại nằm viện vài ngày để theo dõi sức khỏe. Khi thấy con bé tỉnh táo trở lại, ông Bình làm thủ tục đưa con về, nhưng điều khiến vợ chồng ông đứng ngồi không yên là các bác sĩ đều lắc đầu bảo không tìm ra nguyên nhân bệnh trạng, cơ thể con bé hoàn toàn bình thường.
Sự việc kỳ lạ ấy gieo vào lòng vợ chồng ông Bình một nỗi lo âu thắt quặn. Tối hôm đó, bên mâm cơm chiều đạm bạc, hai vợ chồng ngồi bàn tính với nhau, quyết định sẽ gom góp tiền nong đưa con bé Hoa lên bệnh viện tỉnh khám lại một lần. Nếu bệnh viện tỉnh vẫn không ra bệnh, ông bà sẵn sàng chuyển thẳng lên các bệnh viện lớn trung ương trên Hà Nội, chừng nào có kết quả rõ ràng mới dám an lòng. Đúng như kế hoạch, ông Bình lặn lội đưa con lên đến bệnh viện Bạch Mai. Tại đây, sau hàng loạt xét nghiệm, các bác sĩ đầu ngành vẫn đưa ra kết luận con bé Hoa hoàn toàn khỏe mạnh, không hề mang bệnh tật gì trong người. Lúc này, hai vợ chồng mới trút bỏ được gánh nặng trong lòng. Tuy nhiên, sâu thẳm trong thâm tâm ông Bình vẫn luôn bị dằn vặt bởi một câu hỏi: Nếu không có bệnh, tại sao hôm ấy con bé lại lên cơn co giật kinh hoàng đến vậy? Liệu chứng bệnh quỷ dị đó có còn tái diễn nữa hay không? Ông trầm ngâm hút điếu thuốc rồi tặc lưỡi bỏ qua, nghĩ bụng đến cả bệnh viện lớn nhất nước còn bảo không sao thì chắc chắn là con bé không có mệnh hệ gì nữa đâu.
Cho đến một buổi sáng nọ, ông Bình ra đầu phố ăn bát bún lòng tiết canh, sẵn túi tiền ông liền mua thêm một bát mang sang biếu cụ Chấn. Bước đến trước cánh cổng sắt nhà bố mình, ông Bình chợt dấy lên niềm nghi hoặc khi thấy đồng hồ đã điểm hơn 8 giờ sáng mà cửa nhà vẫn đóng im lìm, không một bóng người. Bình thường cụ Chấn vốn có thói quen dậy rất sớm, cứ tầm 5 giờ sáng là cụ đã lục đục trở dậy đi bộ tập thể dục quanh đường làng cùng mấy ông bạn già trong xóm. Vậy mà hôm nay, trời đã nắng bảnh mắt ra rồi mà sạp tạp hóa nhỏ vẫn khóa chặt cửa. Nghĩ bụng chắc bố mình tuổi cao sức yếu đột xuất đổ bệnh nằm trong nhà, ông Bình vội vàng gọi lớn: "Bố ơi! Bố dậy mở cửa cho con, con mang bát bún lòng nóng hổi sang cho bố ăn sáng này!" Ông Bình đứng ghé tai chờ đợi một hồi lâu nhưng tuyệt nhiên không có tiếng trả lời. Ông lại cất giọng gọi thêm mấy hồi nữa, không gian vẫn im lìm như tờ. Thấy chuyện chẳng lành, ông Bình đem túi bún treo tạm vào cánh cổng sắt rồi rảo bước đi vòng qua bên hông nhà. Ghé mắt nhìn qua khe cửa sổ gỗ, ông không thấy cụ Chấn nằm trên giường. Ông lại tất tả đi vòng ra mé sau nhà tìm lối vào.
Khi bước đến sát bờ rào dâm bụt nhìn vào khoảng sân sau, ông Bình chết trân tại chỗ, rụng rời chân tay khi chứng kiến cụ Chấn trong tình trạng không một mảnh vải che thân, đang nằm vật ra bất động ngay trước thềm cửa nhà tắm. Ông Bình hoảng loạn gào thét lạc cả giọng: "Bố! Bố ơi bố làm sao thế này bố ơi!" Nhưng thân hình cụ Chấn vẫn nằm im lìm trên nền xi măng lạnh ngắt. Chẳng kịp suy nghĩ thêm điều gì, ông Bình dùng hết sức bình sinh đạp tung cánh cổng gỗ lao thẳng vào trong sân, cúi xuống bế thốc thân thể bố mình lên. Nhưng mọi chuyện đã quá muộn màng, người cụ đã lạnh toát từ bao giờ, chân tay co quắp, cứng đờ, cụ đã trút hơi thở cuối cùng đơn độc từ đêm qua. Đám tang của cụ Chấn được gia đình tổ chức ngay sau đó trong bầu không khí tang thương cùng tiếng khóc nấc nghẹn ngào của con cháu. Cái chết đột ngột của cụ là một cú sốc quá lớn đối với dòng họ, bởi chỉ mới chiều hôm trước ông Bình sang chơi còn thấy bố mình khỏe mạnh, cười nói sang sảng, vậy mà chỉ qua một đêm đã đôi đường âm dương cách biệt.
Sau khi làm lễ hạ huyệt, tiễn đưa linh cữu cụ Chấn về nơi an nghỉ cuối cùng, đoàn người đưa tang lầm lũi đi bộ trở về trên con đường rải đá dẫn vào làng. Bỗng nhiên, một chiếc xe Camry màu đen lướt tới rồi phanh kít lại ngay bên cạnh. Kính xe hạ xuống, một người đàn bà sang trọng độ ngoài 50 tuổi thò đầu ra, ánh mắt sắc lẹm chỉ thẳng vào mặt ông Bình rồi phán một câu lạnh gáy: "Cậu kia, tang sự này là của nhà cậu đúng không? Gia đình cậu phải liệu thần hồn mà cẩn thận đấy, người vừa nằm xuống chết đúng vào giờ trùng, giờ đại kỵ, nhớ mà lo liệu tìm thầy làm lễ giải đi không thì họa thấu xương!" Nói dứt lời quỷ dị ấy, người đàn bà liền kéo kính xe, nhấn ga phóng đi mất dạng. Lúc này ông Bình đang ngập trong nỗi đau mất cha nên tâm trí đâu mà để ý đến lời kẻ tai vách mạch rừng, ông nghĩ bụng toàn là những lời lừa đảo của hạng người dưng nước lã, hơi đâu mà tin theo cho mệt xác. Thế nhưng, tại ngôi mộ mới đắp của cụ Chấn, khi dòng người đã ra về hết, từ trong lùm cỏ bỗng xuất hiện một con rắn hổ mang to bằng cổ tay người lớn, trên đầu nó mọc một cái mào màu đỏ tươi như máu. Con rắn bò lên nằm chễm chệ ngay giữa nấm mồ mới, ngước đầu thè chiếc lưỡi dài kêu lên những tiếng khè khè lạnh lẽo, rồi dùng đầu đào một cái hang chui tọt xuống sâu dưới lòng huyệt mộ. Mấy người thợ xây mộ nán lại vuốt bia đã tận mắt chứng kiến cảnh ấy, nhưng họ bảo rắn có mào ở mộ là rắn thánh, là chân thân của người khuất hiển linh nên kinh hãi dắt nhau chạy về, không một ai dám mạo phạm.
Sau cái chết đột ngột của cụ Chấn, mấy ông bà lão trong làng thường hay tụ tập bên quán nước chè đầu đình bàn tán xôn xao. Họ bảo nhà cụ Chấn dựng cạnh bến sông cầu đá nên âm khí tích tụ nặng nề, việc cụ chết bất đắc kỳ tử ngoài sân cũng là do số trời, tuổi già sức yếu lại gặp đêm gió độc, âm khí nhập thể thì làm sao gượng nổi. Thời gian cứ thế lầm lũi trôi đi, loáng một cái đã đến ngày cúng thất đầu (tuần đầu tiên) cho cụ Chấn. Và cũng chính từ cái đêm trước ngày cúng thất đầu này, những hiện tượng quỷ dị khôn lường bắt đầu giáng xuống ngôi nhà phạm thế sát của ông Bình. Đêm hôm ấy, con bé Hoa đang nằm ngủ say bên cạnh bà Mận thì bỗng nhiên giật mình bởi tiếng gọi cửa thút thít bên ngoài. Nó mắt nhắm mắt mở ngồi dậy nhìn ra hướng cổng sắt, chính mắt đứa trẻ đã trông thấy hình bóng cụ Chấn đang đứng sừng sững ngoài cổng, cánh tay gầy guộc chỉ thẳng vào trong nhà, cất giọng gọi ai oán: "Bình ơi! Mận ơi! Mở cửa cho bố vào nhà với! Hoa ơi, ra mở cửa cổng cho ông đi con! Ông ở ngoài này lạnh lẽo, cô đơn lắm, mở cửa cho ông vào nhà đi con ơi!" Con bé Hoa như bị kẻ nào bắt mất hồn vía, đờ đẫn đứng dậy lững thững bước ra phía cửa gian nhà. Hình bóng cụ Chấn đứng ngoài cổng không một mảnh quần áo che thân, đáng sợ nhất là gương mặt cụ lúc này xanh lét như da người chết trôi, cặp mắt mở trừng trừng đỏ ngầu như hai hòn than cháy, nhìn quỷ dị chẳng khác nào ác quỷ chốn địa phủ. Con bé Hoa đang thơ thẩn bước gần đến bậu cửa thì đúng lúc ấy bà Mận giật mình tỉnh giấc. Thấy con gái như kẻ mộng du, mặt mũi vô thần bước đi, bà hoảng hồn lao đến ôm chặt lấy con kéo giật trở lại. Bà Mận hoàn toàn chẳng hay biết chuyện con gái đang nhìn thấy vong hồn của ông nội gọi cửa, bà chỉ đinh ninh con bé nhớ ông quá nên ngủ mơ làm bậy. Bà Mận liền bế con đặt trở lại giường rồi ra chốt chặt cửa buồng. Ở phía ngoài cổng, tiếng kêu khóc của cụ Chấn vẫn vang lên văng vẳng, nhưng lạ thay chỉ có mình tai con bé Hoa là nghe thấu: "Hoa ơi! Mở cửa cho ông vào đi con, ở dưới này tụi quỷ sứ âm binh nó đánh đập ông đau đớn lắm, chúng nó giết ông rồi con ơi! Bình ơi mở cửa cho bố vào nhà đi con!" Đứng van nài khẩn cầu mãi mà không thấy con cháu ra mở cửa, vong hồn cụ Chấn bắt đầu nổi trận lôi đình, giọng gầm lên dữ tợn đầy oán hận: "Chúng mày không cho tao vào nhà đúng không! Nếu không cho tao vào, tao sẽ bắt hết tất cả chúng mày đi theo, tụi mày phải xuống âm phủ mà hầu hạ tao!" Nghe tiếng cào cấu ken két vào cánh cổng sắt cùng nhân dạng dữ tợn của ông nội, con bé Hoa sợ hãi tột độ, ôm chầm lấy cổ bà Mận gào khóc nức nở: "Không! Không đâu! Ông nội ơi đừng bắt ai đi hết, đừng bắt ai đi mà!" Con bé Hoa khóc sụt sùi, hai tay quơ quào điên cuồng trước khoảng không như thể đang cố sức đánh đuổi một thứ tà ma vô hình trước mắt. Một lúc sau, tiếng gọi ngoài cổng yếu dần rồi lịm hẳn, lúc này con bé Hoa mới thôi khóc, mệt mỏi chìm sâu vào giấc ngủ mộng mị. Bà Mận thấy con gái la hét hoảng loạn một hồi rồi ngủ thiếp đi thì lòng thầm nghĩ chắc con bé nhớ thương ông nội nên đâm ra hoang tưởng mà thôi.
Sáng ngày hôm sau, ông Bình cùng bà Mận thức dậy từ lúc gà chưa gáy sáng để lo liệu công việc. Phía sau nhà ông Bình có một cái ao khá rộng, ông thả cá nuôi ở dưới đó, vừa để cải thiện bữa ăn cho gia đình, vừa đợi đến kỳ kéo lưới đem ra chợ bán kiếm thêm đồng ra đồng vào. Lúc bà Mận bưng thùng cám ra cầu ao để cho cá ăn, bà vừa cúi xuống thì cả người bỗng sững sờ như hóa đá, thùng đồ ăn trên tay rơi bộp xuống đất, cám đổ lênh láng khắp nơi. Trên mặt ao, chẳng biết vì cớ sự gì mà cá chết nổi trắng xóa, phơi bụng bấp bênh ngập cả mặt nước. Bà Mận hoảng hốt, mặt cắt không còn giọt máu chạy thục mạng vào trong nhà, đúng lúc ông Bình đang ngồi bên rít điếu cày thả khói phê pha. Bà lao sồng sộc vào gian chính, giọng nói lắp bắp không thành tiếng: "Bố... bố cái Hoa ơi! Cá... cá dưới ao nhà mình chết sạch sành sanh hết rồi kìa!" Ông Bình bấy giờ đang trong cơn say thuốc lào đờ đẫn, lại thấy vợ cứ lắp ba lắp bắp, ông nghe chẳng rõ lời nên đặt ống điếu xuống, nhăn mặt nhìn bà Mận bằng ánh mắt khó chịu rồi mắng: "Bà nói nhăng nói cuội cái gì buổi sáng ra thế hả? Cái gì chết mà chết?" - "Là cá! Đàn cá dưới ao nhà mình chết nổi trắng xóa hết cả rồi kìa ông ơi!" Ông Bình nghe xong thì nửa tin nửa ngờ, ông nuôi ao cá này bao nhiêu năm trời, chăm bẵm kỹ lưỡng có bao giờ bị dịch bệnh chết một con nào đâu. Ông bực dọc đứng phắt dậy chạy nhanh ra lối sau nhà, vừa đi vừa lẩm bẩm chửi đổng: "Cá chết là chết thế nào được, toàn nói lời vớ va vớ vẩn, đàn bà thối miệng." Thế nhưng, khi vừa đặt chân lên thành cầu ao, cảnh tượng trước mắt khiến ông Bình rụng rời chân tay. Toàn bộ lứa cá ông bà thả nuôi từ đầu năm đến giờ cứ thế mà chết sạch không sót một con, con nào con nấy ngửa cái bụng trắng hếu bốc mùi tanh sặc sụa. Ông Bình hoang mang cực độ, cả đời làm nghề sông nước ao chuôm chưa bao giờ ông chứng kiến cảnh tượng quái gở này. Ông bủn rủn chân tay ngồi sụp xuống bờ đất, nhìn công sức tiền của chăm bẵm ròng rã cả năm trời bỗng chốc đổ sông đổ bể mà lòng đau như cắt.
Giữa lúc ông Bình đang ngồi thần thờ chưa biết phải dọn dẹp bãi chiến trường dưới ao ra sao, thì từ gian nhà trên bỗng vang lên tiếng gọi của vợ chồng ông Bộ. Ông Bộ chính là anh trai ruột của ông Bình, ngặt nỗi hôm nay bên nhà ông Bộ làm mâm cơm cúng tuần đầu cho cụ Chấn nên ông bà sửa soạn sang gọi vợ chồng em trai cùng qua ăn giỗ phụ. Bước vào nhà không thấy bóng dáng ai, ông Bộ liền rảo bước đi vòng ra lối ao sau để tìm kiếm. Vừa bước đến bờ ao, ông Bộ cũng phải trố mắt kinh ngạc trước cảnh tượng đàn cá chết phơi bụng trắng xóa ao nhà em trai. Trông thấy ông Bình đang ngồi thất thần ở góc bờ ao, ông Bộ bước nhanh đến vỗ vai hỏi: "Cớ sự làm sao thế này hả Bình? Có chuyện gì mà đàn cá lại lăn đùng ra chết sạch bách thế kia?" Ông Bình ngước khuôn mặt ủ rũ trả lời: "Anh sang rồi đấy à? Em cũng đang điên đầu vì chuyện này đây. Đang yên đang lành, sáng sớm nay nhà em ra cho ăn thì đã thấy chúng nó chết nổi trắng hếu cả ao thế này rồi." Ông Bình còn chưa dứt câu bàng hoàng về cảnh cá chết hàng loạt, thì bỗng nhiên mặt nước ao có tiếng động mạnh, sủi bọt sùng sục. Ngay lúc ấy, mươi con cá trê, cá trắm cuối cùng còn thoi thóp sống bỗng nhiên điên cuồng lao đầu lên khỏi mặt nước. Ông Bình cùng ông Bộ tận mắt chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng đó thì lạnh toát sống lưng. Hai anh em năm nay đã ngoài 40 tuổi đời nhưng chưa từng thấy hiện tượng quái lạ nào như vậy. Những con cá giống như đang bị một thế lực quỷ dữ nào đó rượt đuổi dưới lòng ao sâu, chúng nó điên cuồng phóng thẳng thân mình lao đầu vào bờ đá, mỗi lần đâm sầm vào vách đá là âm thanh bồm bộp lại vang lên, máu cá bắn ra loang lổ đỏ rực cả góc ao. Ông Bình kinh hãi quay sang hỏi anh trai: "Chuyện... chuyện quái quỷ gì đang xảy ra vậy anh Bộ?" Ông Bộ lắc đầu quầy quậy, nét mặt ông cũng kinh hoàng chẳng kém gì em trai, mọi việc diễn ra quá đỗi dị thường. Ông Bộ cúi người xuống cạnh mép ao, vục bàn tay múc một ngụm nước đưa lên mũi ngửi thử, ngoài cái mùi tanh nồng nặc của máu cá thì tuyệt nhiên không ngửi thấy mùi hóa chất độc hại nào cả. Ông Bộ trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi đoán mò chắc nguồn nước bị ô nhiễm ngầm khiến cá không hô hấp được nên mới chết ngạt, hiện tượng cá điên cuồng lao đầu lên bờ càng khiến ông tin rằng dòng nước có vấn đề. Ông Bình nghe thấy anh trai giải thích vậy thì cũng gật đầu tán thành ngay vì đó là lý do logic nhất có thể nghĩ ra lúc này. Suốt buổi sáng hôm đó, hai người đàn ông phải mang vợt, lưới ra vớt đống cá chết đem đi chôn cất.
Trong lúc hai anh em đang cặm cụi dọn dẹp dưới ao, bỗng nhiên từ gian bếp trong nhà vang lên tiếng hét thất thanh đầy kinh hoàng của bà Mận, tiếp theo đó là tiếng chân chạy thình thịch, bình bịch lao ra ngoài ao. Vừa đặt chân đến bờ ao, bà Mận đã hốt hoảng gào lớn: "Anh Bình! Anh Bộ ơi mau mau vào nhà mà xem cớ sự lạ lùng này đi!" Ông Bình tuy không rõ trong nhà có chuyện gì nhưng nhìn sắc mặt tái mét, run rẩy của vợ, ông đành buông cây vợt vớt cá sang một bên rồi cùng ông Bộ ba chân bốn cẳng chạy vào nhà. Bước vào khoảnh sân gạch, hai anh em sững sờ khi thấy bà Mận cùng bà Trâm đang đứng nép vào góc tường, mặt mày ai nấy cắt không còn giọt máu. Trước mặt hai bà, chiếc xoong cơm nấu bằng bếp củi đang nằm chình ình giữa sân. Điều quỷ dị nhất là nồi cơm ấy một nửa bên phải thì cháy đen thui như than, còn nửa bên trái lại trắng tinh, hạt gạo còn nguyên vẹn không hề sứt mẻ. Bà Mận lúc này mới lắp bắp lấy lại chút bình tĩnh, bà nói run rẩy: "Hay là... hay là bố mình ở dưới suối vàng có điều gì phật ý, không vừa lòng nên cụ mới hiển linh làm ra nông nỗi này để quở phạt gia đình mình hả ông?" Ông Bình vốn dĩ là kẻ cứng đầu không tin chuyện thần thánh ma quỷ, vừa nghe thấy vợ nhắc đến chuyện tâm linh quở phạt, ông liền nổi trận lôi đình gạt phắt đi. Ông bước tới đưa chân gẩy gẩy cái nồi cơm cháy, rồi quát lớn: "Quở cái thân xác bà ấy! Ăn nói xằng bậy! Đám ma chay cho cụ, hai anh em tôi lo liệu chu toàn từ đầu đến cuối không thiếu sót một món gì, cơm canh cúng kiếng ngày nào cũng ba bữa đều đặn như vắt chanh. Nhìn cái nồi cơm quái gở này thì đích thị là do hai chị em nhà bà vụng thối vụng nát nên nấu hỏng chứ quở cái nỗi gì! Người chết đắp đất nằm yên rồi thì còn làm được trò trống gì nữa! Thôi cơm hỏng thì đổ đi nấu lại nồi khác mà ăn, suốt ngày không lo làm lụng, chỉ giỏi cái trò mê tín dị đoan hại người. Cá chết cả ao ngoài kia thì không lo nghĩ cách cứu vớt, có cái nồi cơm cháy cũng gào cái mồm lên như cháy nhà. Đúng là đồ đàn bà đái không qua ngọn cỏ, toàn lo chuyện tầm phào!" Mắng mỏ vợ một tràng xong, ông Bình bảo ông Bộ quay trở ra ao để dọn dẹp cho dứt điểm công việc. Thế nhưng, chẳng hiểu vì sao hai anh em cứ vớt hết lượt cá chết này lên thì dưới đáy ao lại có lượt cá khác chết nổi lên phơi bụng. Ông Bình chán nản cực độ, quăng chiếc vợt mặc kệ đống cá còn lại dưới nước rồi gọi ông Bộ trở vào nhà nghỉ ngơi.
Tối đêm hôm đó, con trai lớn của ông Bộ là anh Thành, sau khi cùng bố mẹ làm xong mâm cơm cúng tuần đầu cho ông nội, anh phải lật đật chuẩn bị hành lý quay trở về đơn vị trên Hà Nội để tiếp tục công tác. Anh Thành hiện đang theo học tại một trường sĩ quan quân đội chính quy, kỷ luật binh nghiệp nghiêm ngặt nên lịch nghỉ phép của anh rất ngắn ngủi, không thể nán lại nhà lâu hơn. Bà Trâm nhìn đứa con trai độc nhất phải lội bộ giữa đêm hôm khuya khoắt phóng xe đi, lòng bà thắt quặn, sụt sùi nước mắt ngậm ngùi tiễn con ra ngõ. Ông Bộ đứng bên cạnh trông thấy vợ cứ sụt sùi nước mắt ngắn nước mắt dài thì đâm ra bực mình quát: "Ơ hay cái bà này, đêm hôm khuya khoắt rồi còn đứng đấy khóc lóc cái nỗi gì, khéo người ta đi ngang qua lại tưởng cái nhà này có thêm người chết nữa đấy! Thằng Thành nó là lính bộ đội, người lớn rồi tự nó biết lo liệu đường đi nước bước, bà bớt khóc giùm tôi cái!" Nói đoạn, ông Bộ rít thêm một bánh thuốc lào sảng khoái rồi quay lưng bước thẳng vào gian buồng trong. Thân thể ông lúc này vẫn còn ngấm chút hơi men từ mâm rượu cúng lúc chiều nên vừa đặt lưng xuống phản là ông đã gáy khò khò như sấm bên tai. Bà Trích đứng ngoài hiên lau khô giọt nước mắt lăn dài rồi cũng lầm lũi đi vào nhà, chốt chặt các cánh cửa gác, không gian ngôi nhà chìm dần vào đêm muộn yên lặng như tờ.
Đến nửa đêm, bà Trâm đang chìm trong cơn ngủ say bỗng nhiên tai văng vẳng nghe thấy tiếng gọi thút thít bên ngoài ô cửa sổ. Vẫn còn đang trong cơn ngái ngủ đờ đẫn, bà chưa kịp định thần xem giọng nói đó là của ai, nhưng càng lắng nghe bà càng rụng rời chân tay khi nhận ra đó chính là tiếng gọi của anh Thành. Bà Trâm vội vàng ngoái đầu nhìn qua ô cửa sổ gỗ hướng ra khoảng sân, anh Thành đã đứng sừng sững ở ngoài đó từ bao giờ. Anh vẫn khoác trên mình bộ quân phục màu xanh ban nãy, trên vai vẫn đeo chiếc ba lô quân đội quen thuộc, nhưng gương mặt anh lộ rõ vẻ u buồn thảm thương. Anh trố mắt nhìn mẹ mình qua khe cửa rồi cất giọng nghẹn ngào: "Mẹ ơi... đứa con trai bất hiếu này không thể ở lại phụng dưỡng, chăm sóc mẹ được nữa rồi, mẹ đừng oán giận con mẹ nhé. Con đã dặn dò anh dũng rồi, sau này anh Dũng sẽ thay phần con mà phụng dưỡng bố mẹ chu toàn. Giờ con phải đi đây, bố mẹ ở lại giữ gìn sức khỏe mạnh giỏi nhé. Bố mẹ phải hết sức cẩn thận với ông nội đấy... ông nội bảo ông sẽ bắt hết cả nhà mình đi theo hầu ông dưới âm phủ thôi..." Được biết, Dũng là tên người con trai lớn đã ra ở riêng của bà Trâm. Anh Thành vừa dứt lời liền quay lưng lầm lũi bước đi khuất vào bóng tối. Bà Trâm hoảng loạn vùng dậy khỏi giường, lao thục mạng ra ngoài mở toang cửa hiên, nhìn theo hướng bóng tối gào lên lạc cả giọng: "Thành! Thành ơi! Con đi đâu thế hả con, đừng bỏ mẹ mà đi Thành ơi!" Bà Trâm đứng chết trân ngoài cửa nhìn theo bóng lưng con trai. Bỗng nhiên, anh Thành ngoảnh mặt lại nhìn bà, gương mặt anh lúc này bê bết máu tươi đầm đìa, một nửa bên mặt đã nát bét lòi cả xương trắng, con mắt bên phải bị lòi hẳn ra ngoài, treo lủng lẳng đung đưa qua lại trước gió. Trông thấy nhân dạng kinh hoàng ấy của con trai, bà Trâm thất kinh hồn vía, rú lên một tiếng kinh hãi tột độ.
Cũng ngay chính lúc đó, tiếng chuông điện thoại bàn reo lên vang dội, phá tan bầu không khí tĩnh mịch khiến bà Trâm giật nảy mình tỉnh giấc, mồ hôi đầm đìa hóa ra chỉ là một giấc ác mộng kinh hoàng. Ông Bộ đang ngủ say nghe tiếng chuông điện thoại reo inh ỏi giữa đêm thì bực dọc trở mình chửi đổng: "Mẹ cha cái đứa nào nửa đêm nửa hôm còn gọi điện phá thối âm cả lên, không để cho ai ngủ nghê gì hết! Bà dậy nhấc máy xem đứa chết tiệt nào gọi đấy, chửi cho nó một trận trận lôi đình cho tôi!" Ông Bộ hậm hực quay mặt vào tường rồi tiếp tục ngáy phì phò. Bên này, bà Trâm run rẩy bước đến bên bàn, nhìn màn hình điện thoại hiện lên dãy số máy lạ, trong lòng bà bỗng dấy lên một linh cảm chẳng lành dữ dội, giấc ác mộng bê bết máu vừa rồi khiến tim bà đập liên hồi sợ hãi. Bà thẫn thờ đưa bàn tay run bần bật bấm nút nghe. Từ đầu dây bên kia, vừa áp điện thoại vào tai, bà Trâm đã nghe thấy tiếng còi xe cứu thương rú lên từng hồi liên tục, kèm theo đó là giọng nói nghiêm nghị của một người đàn ông xa lạ vang lên: "Alo, cho hỏi đây có phải là số điện thoại của người nhà Thiếu úy Thành không ạ?" Giọng bà Trâm lạc đi, run rẩy đáp: "Vâng... tôi là mẹ của thằng Thành đây có chuyện gì không chú?" Đầu dây bên kia khựng lại một nhịp rồi đáp giọng trầm xuống: "Trước khi thông báo điều này, mong bác phải thật sự giữ bình tĩnh nhé. Thiếu úy Thành trên đường chạy xe trở về đơn vị đã gặp tai nạn giao thông nghiêm trọng và không qua khỏi. Hiện tại thi thể của đồng chí đã được đưa về nhà tang lễ của đơn vị. Cháu gọi điện báo để gia đình nắm được thông tin, kịp thời sắp xếp thời gian lên trên này lo liệu thủ tục đưa anh Thành về quê an táng với gia đình. Alo... alo bác có nghe rõ cháu nói gì không ạ?" Chiếc điện thoại trên tay bà Trâm rơi bộp xuống nền đất vỡ tan, từng cơn nấc cụt nghẹn đắng nghẹn ứ nơi cổ họng, bà ôm chặt lấy lồng ngực rồi gào lên một tiếng đau đớn, xé lòng. Ông Bộ nghe tiếng khóc quặn thắt của vợ thì giật mình tỉnh giấc quay sang. Thấy mụ vợ nhà mình tự nhiên khóc rống lên điên cuồng như kẻ tâm thần, ông chưa kịp cất tiếng mắng chửi thì bà Trâm đã nhào tới ôm chặt lấy vai ông Bộ, gào khóc thảm thiết: "Ông ơi là ông ơi! Con trai mình... nó chết mất rồi ông ơi! Thằng Thành bị tai nạn giao thông chết thảm rồi ông ơi!" Câu nói của bà Trâm đứt quãng hòa trong tiếng khóc tang thương hệt như tiếng sét đánh ngang tai, khiến ông Bộ chết lặng. Đúng lúc ấy điện thoại lại reo, người nghe máy lần này là ông Bộ. Sau khi đầu dây bên kia xác nhận lại một lần nữa về cái chết của anh Thành, ông Bộ rụng rời chân tay, sốc nặng đến mức không tin vào tai mình nữa. Nhưng với tư cách là người trụ cột, đàn ông gánh vác gia đình, ông phải cắn răng kìm nén dòng nước mắt, bảo bà Trâm gom góp quần áo tư trang, rồi cắm đầu chạy sang nhà ông Bình ngay trong đêm tối. Ngay đêm hôm đó, ông Bộ cùng ông Bình và bà Trâm thuê gấp một chuyến xe Tắc xi lao thẳng lên Hà Nội trong đêm.
Ở nhà bấy giờ, bà Mận một mình ôm con nằm trong buồng trằn trọc không sao ngủ được, lòng dạ bồn chồn nôn nao khó tả. Bà liền trở dậy thắp ba nén hương lên bàn thờ gia tiên và bàn thờ của cụ Chấn, chắp tay khấn vái cầu xin các cụ thiêng liêng trên cao che chở, phù hộ độ trì cho mọi người đi đường thượng lộ bình an, tai qua nạn khỏi vô sự trở về. Thế nhưng, nhang vừa mới cắm vào bát hương chưa được bao lâu thì bỗng nhiên chân nhang bùng cháy dữ dội, ngọn lửa bốc lên ngùn ngụt quỷ dị. Ngay khoảnh khắc ấy, phía sau lưng bà Mận đột nhiên có một bóng đen xì vụt qua lạnh ngắt, đồng thời từ trong buồng ngủ vang lên tiếng con bé Hoa gào rống điên cuồng: "Ông nội! Ông nội ơi ông đi đâu thế kia, chờ cháu đi với ông nội ơi! Ông nội ơi đừng bắt mọi người đi theo mà, cháu lạy ông!" Bà Mận nghe tiếng con gái gào thét khóc lóc thảm thiết thì hồn xiêu phách lạc, vội vàng vơ gáo nước dập tắt ngọn lửa bát hương rồi lao thẳng vào buồng xem cớ sự. Trên giường, con bé Hoa đang đi tới đi lui như kẻ mộng du, miệng liên tục lẩm bẩm gọi ông nội. Bà Mận kinh hãi tột độ, kể từ cái ngày cụ Chấn qua đời, hầu như đêm nào đứa con gái nhỏ của bà cũng mớ ngủ, hết khóc lóc lại gọi tên ông nội. Có những đêm bà còn bắt gặp nó mở cửa bước ra ngoài sân gạch, giơ ngón tay chỉ thẳng ra phía cổng sắt bảo ông nội đang đứng ngoài đó vẫy gọi nó đi ra chơi. Nhiều lần bà Mận đã có ý định đem chuyện này kể lại cho ông Bình nghe để tìm cách giải quyết, nhưng bà quá hiểu tính khí bảo thủ của chồng, từ trước đến nay ông Bình có bao giờ chịu tin vào ba cái chuyện tâm linh huyền bí đâu, kể ra chỉ chuốc thêm mắng chửi vào người nên bà đành ngậm bồ hòn làm ngọt, giữ kín trong lòng. Bà Mận đành ôm chặt lấy con bé Hoa kéo nằm xuống phản, nhẹ nhàng vuốt ve xoa dịu lòng ngực cho con ngủ. Một lúc sau thấy con bé đã dịu cơn gào thét, chìm vào giấc ngủ yên ắng thì bà mới thở phào nhẹ nhõm bước ra gian ngoài.
Bà Mận lủi thủi ngồi thụp trước ban thờ gia tiên, mắt dán chặt vào chiếc đồng hồ treo tường chằn chọc, lòng nóng như lửa đốt ngóng trông tin tức từ chiếc điện thoại của ông Bình gọi về. Bà thở dài sườn sượt rồi vô thức đưa mắt ngước nhìn lên ban thờ cụ Chấn mới lập. Đột nhiên, toàn thân bà Mận run bần bật như cầy sấy, hai tai ù đặc đi khi nhìn thấy trên mặt ban thờ có một bóng đen xì, to lớn đang ngồi chồm hổm ngay cạnh bát hương, ghé khuôn mặt quỷ dị nhìn thẳng xuống chỗ bà mà cười khanh khách, tiếng cười âm vang lạnh lẽo thấu tận xương tủy. Bóng đen ấy mở to cặp mắt đỏ ngầu như máu nhìn trừng trừng vào bà Mận đầy đe dọa. Bà còn chưa kịp định thần định hét lên kêu cứu thì cái bóng đen ấy đã lao vọt ra phía cửa hiên, luồng gió lạnh quét qua làm chiếc di ảnh gỗ của cụ Chấn trên ban thờ rơi rớt thẳng xuống nền gạch, vỡ tan tành thành nhiều mảnh vụn. Bà Mận bấy giờ sợ hãi đến mức bủn rủn chân tay, nhưng vẫn phải gượng hết sức tàn lết từng bước đến bên đống đổ nát nhặt nhạnh từng mảnh di ảnh vỡ. Vừa nhặt bà vừa lẩm bẩm khấn vái trong dòng nước mắt: "Con xin bố... bố có sống khôn thác thiêng, con cháu dưới trần có điều gì sơ suất làm bố phật lòng, không vừa ý thì xin bố báo mộng cho nhà con biết để chúng con dập đầu tạ lỗi với bố... xin bố thương tình đứa con đứa cháu mà đừng về quấy nhiễu quấy quả gia đình mình nữa bố ơi!"
Cho đến khi trời gần tảng sáng, chiếc xe tang chở thi thể anh Thành cũng về đến đầu ngõ nhà ông Bộ. Cái chết trẻ của anh Thành hệt như một gáo nước lạnh buốt tạt thẳng vào dòng tộc ông Bộ, bà Trâm vì quá đỗi đau thương trước cái chết của đứa con trai duy nhất nên khóc đến cạn nước mắt, ngất lên ngất xuống liên tục, người nhà phải thay phiên nhau túc trực bên cạnh giường canh giữ ngày đêm vì sợ bà nghĩ quẩn làm điều dại dột tự vẫn theo con. Sau khi lo liệu xong xuôi đám tang đẫm nước mắt của anh Thành, bà Mận trở về nhà mà lòng đầy nghi hoặc, bà cảm giác chuỗi tai ương ập xuống gia đình thời gian qua chắc chắn có uẩn khúc tâm linh ghê gớm chứ chẳng phải chuyện ngẫu nhiên xui xẻo. Bà quyết định phải nói chuyện thẳng thắn với ông Bình, dù ông có nổi trận lôi đình mắng chửi thế nào bà cũng phải nói để cứu lấy gia đình. Trông thấy ông Bình đang ngồi ủ rũ hút thuốc một mình ngoài hiên nhà, bà Mận rón rén bước ra ngồi ghé bên cạnh ông, giọng lưỡng lự e dè: "Ông à... tôi có chuyện này hệ trọng lắm, không biết có nên nói ra với ông hay không nữa?" - "Ơ hay cái bà này khéo vẽ chuyện, có việc gì thì cứ nói phăng ra đi xem nào! Tôi với bà đầu ấp tay gối sống với nhau mấy chục năm trời rồi, giờ tự dưng lại còn bày đặt làm cái vẻ khách sáo xa lạ ấy làm gì?" Bà Mận nhìn chăm chắm vào nét mặt ông Bình xem sắc mặt chồng ra sao, một lát sau bà hít một hơi khí lạnh, dồn hết can đảm tích tụ bấy lâu mà nói: "Ông ạ... tôi biết từ trước đến nay ông chẳng bao giờ tin vào chuyện bói toán mê tín. Nhưng mà tình cảnh nhà mình lúc này nguy kịch lắm rồi, mình nên hạ mình đi tìm thầy xem bói xem sao ông ơi! Chưa đầy một tuần lễ mà trong dòng họ đã chết thảm liên tiếp hai mạng người rồi. Ngoài đường làng xóm ngõ người ta đang rỉ tai nhau bảo nhà mình phạm phải họa trùng tang liên tán rồi đấy! Dạo gần đây tôi thấy con bé Hoa đêm nào ngủ cũng khóc rống lên, bảo ông nội đứng sừng sững ngoài cổng vẫy gọi nó ra ngoài chơi. Hơn nữa, cái đêm ông với anh Bộ lội bộ lên Hà Nội nhận xác thằng Thành, chính mắt tôi trông thấy rõ mồn một có cái bóng đen xì ngồi chồm hổm trên ban thờ của cụ Chấn nhìn tôi cười quỷ dị. Ông xem cớ sự này hay là..." Bà Mận còn chưa kịp dứt lời khuyên nhủ thì chiếc bát điếu cày trên tay ông Bình đã bị ông đập mạnh xuống mặt bàn gỗ phát ra tiếng trát một cái kinh hoàng, khiến bà giật bắn mình đánh thót. Sẵn cơn thịnh nộ đang bốc lên đầu, ông Bình giơ thẳng ống điếu vào mặt bà Mận mà quát tháo lôi đình: "Trùng cái thân xác bà ấy! Toàn một lũ đồn thổi bậy bạ! Con Hoa nó gọi ông nội chẳng qua là vì từ nhỏ nó được cụ Chấn bế bồng chăm chút, giờ cụ mất đột ngột thì đứa cháu nhớ thương ông là chuyện thường tình chứ ma quỷ gì ở đây! Còn thằng Thành nó chết là do tai nạn giao thông ngoài đường, chuyện rủi ro xui xẻo ai mà lường trước được! Bà bớt cái thói nghe lũ người rỗi hơi ngoài đường đồn thổi linh tinh đi, chẳng có hay ho gì đâu bà biết chưa hả!" Quát tháo vợ xong, ông Bình hậm hực ôm điếu cày đứng dậy bước thẳng vào trong nhà. Bà Mận quá hiểu tính nết độc đoán của chồng nên chẳng dám ho he ho he cãi thêm lời nào nữa. Sực nhớ đến đứa con trai lớn đang học tập trên Hà Nội, lòng bà bỗng dấy lên linh cảm bất an lạ thường, bà vội rút chiếc điện thoại ra bấm máy gọi cho con. Sau khi nghe thấy giọng con trai bình an vô sự qua đầu dây bên kia, lòng bà mới tạm vơi bớt phần nào lo sợ bước vào dọn dẹp gian bếp.
Kể từ sau cái ngày cụ Chấn qua đời, ngôi nhà của ông Bình liên tục diễn ra những hiện tượng quỷ dị không lời giải đáp. Đêm đêm, con chó mực xích ở góc tường cứ đúng canh ba, 12 giờ đêm là lại ngước cổ lên trời tru lên những hồi dài nghe ai oán, thê lương hệt như tiếng sói đói giữa rừng sâu. Có những đêm nó hoảng loạn giật dây xích cắm đầu chạy toán loạn quanh góc sân, sủa lên điên cuồng như thể đang bị một thứ tà ma hung tợn nào đó dọa giẫm, truy đuổi. Nếu như dạo trước chỉ có độc mình con bé Hoa là nhìn thấy hình bóng cụ Chấn đứng ngoài cổng gọi cửa, thì giờ đây, ngay cả chính mắt bà Mận cũng phải chứng kiến hiện tượng kinh hoàng đó. Vào một đêm khuya thanh vắng, khi đang chìm trong giấc ngủ, bà Mận bỗng giật mình bởi tiếng gọi cửa lộc cộc bên ngoài hiên. Tưởng có người hàng xóm có việc hệ trọng tìm gặp giữa đêm, bà vội vã trở dậy bước ra phòng khách. Ghé mắt qua khe cửa sổ nhìn ra khoảng sân gạch trước cổng, bà Mận chết lặng tại chỗ khi thấy rõ mồn một hình bóng cụ Chấn và anh Thành đang đứng sừng sững trước cổng sắt, cánh tay giơ thẳng chỉ vào trong nhà. Bà Mận bấy giờ sợ hãi đến mức hồn bay phách lạc, chỉ biết nép chặt thân mình vào sau cánh cửa gỗ, hé mắt nhìn ra ngoài theo dõi. Ở ngoài sân kia, vong hồn cụ Chấn chống cả hai tay xuống nền đất lạnh, lồm cồm bò qua bò lại hệt như một loài dã thú quỷ dị. Bà Mận toàn thân run lẩy bẩy như cầy sấy, chăm chú theo dõi từng nhất cử nhất động hãi hùng của bố chồng. Đứng ngay bên cạnh hình bóng cụ Chấn chính là anh Thành, anh không hề nói một lời nào, chỉ đứng im lìm trước cổng sắt mà khóc lóc, dòng máu tươi từ trên mặt chảy xuống đầm đìa. Trông thấy đứa cháu tội nghiệp, lòng bà Mận đau đớn xen lẫn sợ hãi tột cùng. Bà thừa hiểu anh Thành bị bắt đi khi tuổi đời còn quá trẻ, chưa tận số mạng, bởi vì ngay chiều ngày hôm trước bà đã lén lút trốn ông Bình đi tìm một ông thầy thầy pháp cao tay trong vùng để xem bói. Ông thầy đã bấm quẻ bảo chuỗi tai ương ập xuống gia đình thời gian qua hoàn toàn không phải chuyện ngẫu nhiên, mà là điềm báo của họa trùng tang cực nặng. Dù biết rõ sự thật kinh hoàng là vậy nhưng rào cản lớn nhất đối với bà lúc này chính là ông Bình – người đàn ông độc đoán, bảo thủ luôn khăng khăng giữ lấy suy nghĩ vô thần của mình. Ở phía ngoài cổng, vong hồn cụ Chấn đã bò qua khe sắt vào trong khoảng sân gạch từ bao giờ, ông ta lao thẳng đến chỗ con chó mực đang xích ở góc tường rồi giơ tay đánh đập con vật điên cuồng. Con chó bị vong hồn đánh bồm bộp vào đầu, đau đớn kêu lên những tiếng ăng ẳng thảm thiết rồi chui tọt vào trong chuồng không dám ho he. Một lúc sau, vong hồn cụ Chấn thôi không đánh chó nữa, lồm cồm bò sát đến trước thềm cửa gian chính nơi bà Mận đang đứng nép mình. Vong hồn áp sát khuôn mặt xanh lét, quỷ dị vào khe cửa sổ gỗ, đôi mắt đỏ ngầu nhòm ngó khắp lượt trong nhà rồi cất giọng nói âm trầm, lạnh lẽo vọng ra từ cõi địa ngục sâu thẳm: "Mận ơi... mở cửa cho bố vào nhà đi con, bố biết thừa con đang đứng sau cánh cửa kia mà... mở cửa ra cho bố đi Mận ơi! Hoa ơi... ra mở khóa cửa cho ông vào nhà đi con ơi Hoa ơi!" Bà Mận bấy giờ sợ hãi đến mức điếng dại cả người, tim hụt đi một nhịp, nước mắt chảy dài vì kinh hãi, bà phải đưa cả hai bàn tay bịt chặt lấy miệng mình để ngăn không cho tiếng khóc nấc bật ra ngoài thành tiếng. Bỗng nhiên lúc ấy, từ trong buồng ngủ, con bé Hoa lững thững bước ra phòng khách, hai mắt mở trừng trừng đờ đẫn, miệng lẩm bẩm nói như kẻ bị bỏ bùa: "Ông nội về rồi kìa... con phải ra mở cửa cho ông nội vào nhà thôi. Ông nội bảo ông ở ngoài sân lạnh lẽo lắm, con phải mở cửa cho ông vào ấm áp..." Bà Mận trông thấy con gái đang bước đi vô thần hướng ra cửa chính thì hốt hoảng lao đến ôm chặt lấy con, bế thốc con bé chạy thẳng về phòng ngủ chốt chặt cửa lại. Tiếng gọi khàn đặc, ai oán của cụ Chấn vẫn vang lên đều đặn văng vẳng bên ngoài hiên nhà, thi thoảng hòa lẫn tiếng tru dài lạnh gáy của con chó mực xích ngoài góc tường suốt đêm thâu. Cũng chính trong đêm hôm đó tại gian nhà bên ông Bộ, bà Trâm đang nằm ngủ bỗng giật mình tỉnh giấc khi nghe thấy tiếng khóc thút thít của anh Thành vang lên ngoài sân gạch. Kể từ cái ngày đứa con trai độc nhất qua đời, bà Trâm chìm trong đau khổ tột cùng, bỏ ăn bỏ ngủ, tinh thần suy sụp hoàn toàn, vừa nghe thấy tiếng khóc quen thuộc là bà nhận ra ngay giọng con trai mình. Bà Trâm vội vàng vùng dậy lao thẳng ra cửa chính, đúng thật là anh Thành đang đứng khóc lóc ngoài sân. Bà cuống cuồng tìm chùm chìa khóa định mở cửa ôm con, nhưng ông Bộ đã kịp thời lao đến ôm chặt lấy bà ngăn cản lại. Thực chất ông Bộ chẳng nhìn thấy bất kỳ hình bóng nào ngoài sân cả, ông chỉ đinh ninh do vợ quá đau buồn trước cái chết đột ngột của con trai nên tinh thần bị kích động mạnh dẫn đến hoang tưởng, sinh ra ảo giác mà thôi. Mặc cho bà Trâm gào khóc thảm thiết, liên tục chỉ tay ra khoảng sân trống gọi tên anh Thành trong tuyệt vọng, ông Bộ vẫn dùng sức kéo ghì vợ trở lại chiếc giường gian buồng trong. Sau khi bóng dáng ông Bộ và bà Trâm khuất sau cánh cửa buồng, ngoài sân gạch, vong hồn cụ Chấn lại hiện hình sừng sững, đưa đôi mắt đỏ ngầu như hai hòn than nhìn trừng trừng vào gian nhà của người con trai trưởng với ánh nhìn đầy oán hận, căm phẫn tột cùng.
Thời gian cứ thế âm thầm trôi đi, thấm thoắt đã sắp đến ngày cúng 49 ngày cho cụ Chấn. Dạo gần đây, được sự động viên chăm sóc của họ hàng, tinh thần của bà Trâm cũng dần ổn định trở lại, bà không còn mơ thấy hay nhìn thấy hình bóng anh Thành hiện về quấy phá nữa. Thế nhưng, trái ngược với nhà ông Bộ, bên nhà ông Bình lại đang điên đầu, khốn đốn bởi căn bệnh lạ lùng ngày một trầm trọng của con bé Hoa. Thuở trước khi đưa con lên bệnh viện Bạch Mai khám xét, bác sĩ bảo con bé hoàn toàn bình thường, khỏe mạnh, vậy mà chẳng hiểu vì sao suốt một tháng trở lại đây, cứ cách vài ngày là con bé lại đột ngột lên cơn co giật đùng đùng, sùi bọt mép kinh hoàng một lần. Bà Mận lo lắng khôn nguôi, hết mua thuốc Tây theo đơn lại lặn lội đi bốc thuốc Nam đủ kiểu cho con uống nhưng bệnh tình chẳng hề thuyên giảm. Có lần ông Bình đi nghe ngóng người ta rỉ tai bảo đi đào con giun đất dưới lòng đất sâu, đem về làm sạch ruột rồi ninh với gạo nếp thành cháo cho con bé Hoa ăn là sẽ chữa dứt điểm được chứng bệnh động kinh quỷ quái này. Ông Bình cũng lật đật làm theo y hệt lời người ta bày, nhưng rốt cuộc con bé ăn vào vẫn chẳng có chút kết quả gì chuyển biến tốt.
Vào một buổi tối nọ, ông Bộ cùng bà Trâm đi bộ sang nhà ông Bình để cùng nhau bàn bạc, thống nhất việc làm lễ cúng tiễn linh hồn 49 ngày cho cụ Chấn vào ngày hôm sau. Ngồi trước màn hình chiếc tivi gian phòng khách, hai anh em đang chăm chú theo dõi chương trình dự báo thời tiết ban đêm, đài báo một cơn bão lớn cấp 9 dự kiến sẽ đổ bộ trực tiếp vào các tỉnh thành phía Nam. Được biết, nhà ông Bộ hiện tại còn một người con trai lớn tên là Mạnh, hiện đang sinh sống và làm công nhân xây dựng ở trong miền Nam. Nghe tin bão dữ sắp ập vào nơi con trai đang làm việc, lòng bà Trâm bỗng dấy lên nỗi lo âu phấp phỏng, chẳng hiểu sao mấy ngày hôm nay trong thâm tâm bà luôn tồn tại một cảm giác bất an, bồn chồn khó tả như thể sắp có tai ương kinh hoàng giáng xuống đầu. Sau một hồi bàn thảo xong xuôi chuyện chuẩn bị mâm cỗ đám giỗ cho cụ, hai vợ chồng ông Bộ đứng dậy định ra về thì bỗng nhiên chiếc điện thoại trong túi áo bà Trâm đổ chuông reo lên inh ỏi, màn hình hiện lên tên người gọi là anh Mạnh. Bà Trâm mừng rỡ ra mặt, vội vã bấm nút nghe định bụng dặn dò con trai tránh bão, nào ngờ đâu từ đầu dây bên kia, áp vào tai bà không phải giọng nói quen thuộc của con trai mà là chất giọng đặc sệt miền Nam của một người đàn ông xa lạ vang lên lạnh lùng: "Alo... cho hỏi đây có phải số máy của người nhà anh Mạnh không ạ? Tôi là người đi đường xin báo tin buồn cho gia đình biết là anh Mạnh vừa bị một cây cổ thụ bật gốc đè trúng người, tử vong ngay tại chỗ rồi. Gia đình mau chóng sắp xếp vào đây mà nhận xác con em mình về lo hậu sự đi, lực lượng công an đang có mặt tại hiện trường giải quyết đây này!" Nghe những lời thông báo rụng rời hệt như sét đánh ngang tai, hai mắt bà Trâm tối sầm lại, hai tai ù đặc đi rồi đổ sụp xuống nền đất ngất lịm tại chỗ không biết gì nữa. Ông Bộ thấy vợ ngã quỵ thì hoảng hốt lao đến giật lấy chiếc điện thoại áp vào tai nghe máy. Sau khi nghe người bên kia nhắc lại hung tin đứa con trai cuối cùng của mình cũng đã bỏ mạng thảm khốc nơi xứ người, ông Bộ quỳ rạp hai đầu gối xuống sàn đất, gào khóc lên thảm thiết điên cuồng. Cái chết của anh Thành thuở trước đã là giới hạn chịu đựng cuối cùng của người cha, giờ đây ngay cả anh Mạnh cũng đột ngột lìa đời, niềm hy vọng cuối cùng của đời ông đã hoàn toàn tan vỡ, ông không thể kiềm chế được nỗi đau đớn tột cùng này nữa. Ông Bộ liên tục đập mạnh đầu mình xuống nền gạch sân gạch bộp bộp, tiếng khóc nghẹn ngào thấu tận can trường. Chỉ vỏn vẹn trong vòng chưa đầy mười ngày ngắn ngủi, ông Bộ cùng lúc mất đi hai đứa con trai độc nhất, nỗi đau đớn tột cùng ấy không lời nào tả xiết. Ông lắp bắp xin địa chỉ cụ thể từ đầu dây bên kia để gia đình vào nhận xác con về quê nhà.
Bi kịch kinh hoàng này chưa kịp lắng xuống thì tai ương quỷ dị khác lại lập tức ập tới ngay gian nhà ông Bình. Cùng chính khoảnh khắc ấy, từ trong phòng ngủ, bóng dáng con bé Hoa lững thững bước ra ngoài phòng khách. Điều kinh hãi là nó không bước đi bằng hai chân như người bình thường nữa, mà chống cả hai tay xuống nền đất, gập cong người lại rồi nhảy tót cả tưng cả tưng y hệt hành vi của một con khỉ dại. Trước ánh mắt kinh hoàng, kinh hãi của tất cả mọi người có mặt trong gian nhà, con bé Hoa nhảy tót lên ngồi chồm hổm ngay chính giữa chiếc ban thờ cụ Chấn. Nó giơ đôi bàn tay nhỏ bé vơ sạch đống bánh kẹo, hoa quả, đĩa xôi đang bày thờ cúng ném thẳng vào mặt ông Bình và bà Mận đang đứng chết trân bên dưới. Sau đó, nó quay ngoắt cái đầu quỷ dị nhìn khắp lượt mọi người trong nhà, khóe miệng nhếch lên cười khanh khách rồi gằn giọng nói khàn đặc đầy oán hận: "Lũ chúng mày! Tụi mày nghe cho rõ đây, tao sẽ bắt sạch sành sanh hết tất cả tụi mày đi theo tao, không một đứa nào thoát nổi bàn tay tao đâu!" Chứng kiến đứa con gái bé bỏng tự dưng có hành vi điên cuồng quỷ dị như bị quỷ nhập xác, bà Mận sợ hãi đến bủn rủn chân tay, mếu máo khóc ròng gọi con: "Hoa ơi! Con làm sao thế này hả Hoa ơi? Mau tỉnh lại đi con ơi, mẹ đây mà, con không nhận ra mẹ ruột của con nữa hay sao hả con?" Nhưng con bé Hoa chẳng thèm đoái hoài nhìn bà Mận lấy một cái, nó quay ngoắt đôi mắt đỏ ngầu, ngập tràn oán thù nhìn trừng trừng thẳng vào khuôn mặt ông Bình rồi giơ ngón tay chỉ thẳng vào mặt ông, vừa cười điên dại vừa nói giọng âm ty: "Mày... cái thằng con bất hiếu! Mày chính là kẻ tiếp theo phải đền mạng, tao sẽ bắt mày xuống địa ngục với tao!" Vừa dứt lời quỷ dị ấy, con bé Hoa bỗng nhiên bật ngửa người ra sau ngất lịm đi, rơi tự do từ trên ban thờ cao xuống đất, may thay bà Mận đã kịp thời lao tới đỡ lấy thân hình con gái.
Vài ngày sau đó, thủ tục đưa thi thể anh Mạnh từ trong miền Nam xa xôi về lại quê nhà cũng hoàn tất để gia đình tổ chức tang lễ an táng. Giữa lúc họ hàng làng xóm đang tập trung đông đúc tại sân nhà ông Bộ để làm lễ khâm liệm, nhập quan cho anh Mạnh, thì bên nhà ông Bình lại một lần nữa náo loạn kinh hoàng. Con bé Hoa đang yên đang lành bỗng nhiên điên cuồng chạy xộc ra ngoài sân, đứng sừng sững trước bàn thờ vong của anh Mạnh rồi ngửa cổ lên trời cười khằng khặc liên hồi hệt như kẻ điên dại, tâm thần phát tác. Ai nấy trông thấy thế hoảng hốt lao vào ôm chặt định bế nó vào trong buồng nhưng đều bị một sức mạnh quỷ dị của con bé hất văng ra ngoài. Nó cứ đứng giữa sân cười ngặt nghẽo liên tục không hề ngắt quãng như thể đang vui sướng trước cái chết của người anh họ. Thế nhưng, chỉ vài phút ngắn ngủi sau đó, tiếng cười quỷ dị bỗng đột ngột tắt lịm, con bé Hoa ngã vật ngửa ra nền gạch lạnh ngắt, toàn thân lên cơn co giật đùng đùng, mắt trợn ngược sùi bọt mép rồi tắt thở, tử vong ngay tại chỗ trước sự chứng kiến kinh hoàng của trăm họ. Tất cả mọi người có mặt tại đám tang đều hoảng loạn, nháo nhào hét vang kinh hãi. Chỉ chưa đầy 49 ngày ngắn ngủi kể từ ngày cụ Chấn nằm xuống, trong dòng tộc nhà ông Bình đã liên tiếp chết thảm thêm ba mạng người trẻ tuổi.
Bốn ngày sau cái chết đột ngột của con bé Hoa cũng chính là ngày làm lễ cúng chung thất (49 ngày) cho cụ Chấn. Trưa hôm ấy, ông Bình đau đớn trước cái chết của con gái nên tìm đến rượu để giải sầu, ông uống rất nhiều rượu, say khướt đờ đẫn. Trong cơn say xỉn điên cuồng, ông bước đến chỉ thẳng ngón tay vào chiếc ban thờ của bố mình mà chửi đổng om sòm lên, buông ra những câu chửi bới vô tiền khoáng hậu, không đầu không đuôi đầy hỗn láo với người khuất. Ông chửi bới cho bõ tức, cho sướng cái mồm ích kỷ của mình rồi lảo đảo leo lên chiếc phản gỗ gian buồng nằm lăn ra ngủ thẳng cẳng. Đến đầu giờ chiều, bà Mận thấy chồng say rượu nằm ngủ li bì mãi không chịu dậy liền bước vào buồng định lay gọi ông dậy uống nước cam giải rượu. Thế nhưng, khi vừa chạm tay vào người chồng, bà Mận kinh hoàng phát hiện thân thể ông Bình đã lạnh ngắt, cứng đờ tự bao giờ, ông đã tắt thở tử vong từ lâu. Bà Mận ôm chầm lấy cái xác không hồn của chồng mà gào khóc rống lên thảm thiết, xé lòng. Nghe tiếng thét thất thanh của mẹ, anh Đức – đứa con trai lớn duy nhất còn lại của gia đình bấy giờ đang lụi cụi cuốc đất ngoài vườn vội vã vứt cuốc lao thục mạng vào trong buồng. Xác ông Bình lúc này lạnh toát, điều kinh hoàng nhất là hai mắt ông mở trừng trừng trợn ngược lên trời, nét mặt lộ rõ sự kinh hãi tột độ hệt như trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông đã phải nhìn thấy một thứ gì đó vô cùng đáng sợ, kinh hoàng chốn địa ngục. Ông Bình chết trong tư thế mở mắt trừng trừng, người nhà làm đủ mọi cách, vuốt mắt thế nào hai mí mắt ông cũng không chịu khép lại, đành phải ngậm ngùi tiến hành thủ tục khâm liệm, nhập quan trong tình trạng hai mắt người chết vẫn mở trừng trừng nhìn thấu trần gian. Những cái chết thảm khốc cứ liên tiếp giáng xuống dòng họ, người dân trong làng bắt đầu đồn thổi bàn tán xôn xao rằng đích thị nhà ông Bình đã dính phải họa trùng tang liên tán cực nặng, chiếc rạp đám tang dựng lên cho đứa con gái nhỏ còn chưa kịp dỡ bỏ thì giờ đây lại được giữ nguyên để dùng luôn cho người bố tội lỗi, khung cảnh ngôi nhà phạm thế sát bấy giờ tang thương, lạnh lẽo vô cùng. Sau khi lo liệu chu toàn xong xuôi hậu sự cho ông Bình, bà Mận cùng vợ chồng ông Bộ, bà Trâm lúc này mới hoàn toàn thức tỉnh, nhận thức được mức độ nghiêm trọng khôn lường của đại nạn trùng tang. Ông Bộ dù là kẻ cứng rắn đến đâu thì trước cảnh tượng xót xa con cháu chết sạch cũng phải cúi đầu chấp nhận rằng trên đời này thực sự có tồn tại thế giới tâm linh ma quỷ, và đó chính là nguyên nhân cốt lõi gieo rắc mọi tai ương, bi kịch thảm khốc mà gia tộc ông đang phải gánh chịu. Ngay ngày hôm sau, ông Bộ đã tất tả lặn lội tìm đường mời bằng được thầy pháp cao tay về nhà để làm lễ trị họa trùng tang. Gia đình ông phải lặn lội sang tận vùng Bắc Ninh để rước một vị đại sư am tường phong thủy ma chay về lập đàn, thực hiện đại lễ "phá ngục" giải thoát vong hồn thì mới mong cứu vãn được những sinh mạng còn sót lại trong dòng tộc vượt qua kiếp nạn diệt vong này. Bà Mận bấy giờ chỉ còn lại duy nhất một đứa con trai duy nhất là anh Đức, lo sợ hãi hùng tai ương sẽ tiếp tục cướp nốt mạng sống của đứa con, bà đã quyết định bán tống bán tháo ngôi nhà phạm thế sát rồi dắt díu con trai rời bỏ hẳn mảnh đất dữ Hải Phòng này, chuyển đi biệt xứ nơi khác sinh sống để trốn chạy khỏi những ký ức tang thương, đau khổ tột cùng không bao giờ xóa nhòa được trong tâm can. Thời gian cứ thế lầm lũi trôi qua được vài năm, ông Bộ do suy sụp tinh thần sau chuỗi bi kịch mất con cũng lâm bệnh nặng rồi qua đời, bỏ lại mình bà Trâm sống cô độc, leo lắt qua ngày trong gian nhà hoang lạnh. Và câu chuyện quỷ dị về chuỗi cái chết liên hoàn đầy bí ẩn của gia đình ông Bình dù đã trôi qua hàng chục năm trời, nhưng cho đến tận ngày hôm nay, mỗi khi có dịp nhắc lại bên chén trà xanh, người dân trong làng vẫn không giấu nổi sự kinh hoàng, sợ hãi và ám ảnh khôn nguôi về họa trùng tang năm ấy.
Nhận xét
Đăng nhận xét