MA NỮ PHÒNG CUỐI TẦNG BA… MƯỢN XÁC NỮ SINH ÉP CHỦ TRỌ TREO CỔ | Kỳ 35
Oan có đầu, nợ có chủ, lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó thoát. Nơi góc tối xóm trọ âm u, nơi những căn phòng chật chội rải rác từng hơi thở mệt mỏi của kiếp người, luôn tồn tại những bí mật kinh hoàng bị chôn giấu dưới tớp bụi thời gian. Kẻ thủ ác dẫu có dùng tiền bạc để che đậy tội lỗi, dùng quyền lực để mua gian bán lận nơi trần thế, thì cái gai oán khí của người chết vẫn nhen nhóm trong đống tro tàn. Để rồi khi thời cơ đến, linh hồn oan khuất sẽ mượn xác đòi mạng, bắt kẻ ác phải tự tay tra cổ vào vòng thòng lọng để đền tội máu.
Người sống thường sợ những thứ nhìn thấy được: một con dao lóe lên trong đêm, một gương mặt đứng sau cửa sổ, hay tiếng chân ai đó bám theo trên con ngõ vắng. Nhưng thứ đáng sợ nhất lại là điều không ai nhìn thấy—một hơi thở lạnh phả ra từ bức tường kín, một mùi tóc cháy bám trên gối, hay vệt móng tay tím bầm hiện dần quanh cổ khi người ta đang ngủ. Có những căn phòng đã hút quá nhiều tiếng khóc đến mức vôi tường cũng mang mùi tanh. Có những chiếc xà nhà tưởng chỉ mục vì mưa nắng, nhưng thật ra từng thấm mồ hôi, nước mắt và thứ dịch đen rỉ ra từ miệng người chết. Ban ngày chúng im lìm như vật vô tri. Đến nửa đêm, khi tiếng xe ngoài đường tắt hẳn, chúng bắt đầu nhớ lại mọi chuyện.
Thu Cúc là cô sinh viên sư phạm vừa tròn hai mươi tuổi, dáng người mảnh khảnh và mang trong mình căn bệnh tim bẩm sinh từ nhỏ. Vì hoàn cảnh gia đình nghèo khó, Thu Cúc xin vào ở trong ký túc xá của trường đại học cho đỡ chi phí. Thế nhưng, vào đầu học kỳ mới, nhà trường ra thông báo toàn bộ khu ký túc xá sẽ phải đóng cửa để tu sửa lớn, bắt buộc sinh viên phải tự ra ngoài tìm phòng thuê trọ ít nhất một học kỳ.
Căn bệnh tim khiến Thu Cúc luôn phải mang theo một vỉ thuốc nhỏ trong túi áo. Mỗi khi hồi hộp, cô có cảm giác lồng ngực bị một bàn tay vô hình bóp chặt, nhịp tim nhảy loạn như con cá mắc cạn. Mẹ cô từng dặn tuyệt đối không được thức quá khuya, không được để tinh thần hoảng loạn. Nhưng cuộc sống nghèo khó đâu cho cô quyền lựa chọn. Nhiều đêm trong ký túc xá, khi các bạn đã ngủ, Cúc vẫn ngồi trước chiếc laptop cũ, gõ từng dòng bài viết trong ánh đèn bàn vàng đục, bên cạnh là cốc nước lọc và nửa gói mì đã nở trương. Cô từng nghĩ cái chết đáng sợ nhất là một cơn đau tim bất ngờ. Về sau cô mới hiểu, có những thứ không muốn giết người ngay. Chúng thích chui vào giấc ngủ, mượn tay chân người sống và từ từ dạy họ cách tự kết liễu chính mình.
Nhận được tin, Thu Cúc hoang mang tột cùng. Cô gọi điện về quê xin cha mẹ chút tiền cọc trọ, nhưng đón nhận cô qua ống nghe chỉ là những lời mắng chửi thậm tệ, thô bạo từ người cha nát rượu. Còn mẹ cô - một người phụ nữ lam lũ làm nghề rửa bát thuê ở quán cơm bình dân - tiền lương ba cọc ba đồng lo bữa ăn hàng ngày còn thiếu trước hụt sau, lấy đâu ra tiền gửi cho con. Thu Cúc cúp máy, ngồi thu lu một mình trong góc phòng khóc nức nở. Cô không phải kẻ lười biếng; từng xin đi làm phục vụ quán trà sữa nhưng vì sức khỏe yếu, mới thử việc hai ngày đã ngất xỉu ngay quầy rửa ly khiến chủ quán hoảng sợ đuổi việc. Thi thoảng, cô chỉ biết thức đêm viết vài bài báo ngắn gửi các tờ tạp chí, nhận chút tiền nhuận bút ít ỏi để trang trải tiền ăn qua ngày.
Đúng lúc bế tắc nhất, Ánh - một cô bạn cùng lớp sư phạm - biết chuyện liền ngỏ ý giúp đỡ. Ánh kể gia đình mình có một dãy nhà trọ ba tầng rộng lớn nằm ven khu xí nghiệp dệt xóm Cầu Đen. Tuy hơi xa trung tâm thành phố nhưng an ninh rất tốt, giá lại rẻ, Ánh sẽ xin bố giảm bớt tiền phòng cho Cúc. Thu Cúc mừng rỡ gật đầu cảm ơn bạn tới tấp. Ba ngày sau, Thu Cúc gom góp vài thùng bìa cát-tông đựng quần áo cũ, cùng Ánh chằng đồ lên chiếc xe máy cùi cẩu chở về xóm trọ Cầu Đen.
Đập vào mắt Thu Cúc là một dãy nhà trọ ba tầng biệt lập đứng trơ trọi giữa bãi đất trống um tùm cỏ dại. Dãy trọ có gần bốn mươi phòng, giăng đầy những dây quần áo phơi chật cứng các hành lang. Ánh rút điện thoại gọi một cuộc, ít phút sau một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi lái xe tới - đó là Ông Bảy Cần, bố của Ánh, người đã kinh doanh dịch vụ phòng trọ này hơn hai mươi năm. Ông Bảy Cần đồn đả chào đón, dẫn Cúc vào căn phòng nằm ngay dưới tầng trệt và xởi lởi bảo cô gặp may vì chỉ còn đúng một phòng trống này. Sau khi hướng dẫn công tắc điện nước và trao chìa khóa, Ông Bảy Cần vội vã lên xe rời đi, còn Ánh ở lại phụ bạn dọn dẹp đến đầu giờ chiều. Đứng trong căn phòng trọ nhỏ gọn gàng, Thu Cúc thầm cảm thấy cuộc đời mình vẫn còn may mắn khi gặp được người tốt giúp đỡ.
Trong lúc ông Bảy cúi xuống lựa chìa khóa, Thu Cúc thoáng thấy cổ tay ông có một vết sẹo dài đã bạc màu, hình vòng cung giống như từng bị dây siết. Móng tay ông cắt rất sát nhưng kẽ móng vẫn dính những mảng đen nhỏ, không rõ là dầu máy hay đất nghĩa địa. Ông nói cười liên tục, song mỗi lần vô tình ngước nhìn lên tầng ba, khóe miệng lại cứng đờ. Khi trao chìa khóa căn phòng tầng trệt, bàn tay ông lạnh ngắt và ẩm nhớp. Cúc rút tay về, ngửi thấy trên đầu ngón mình một mùi lạ—mùi da thuộc cũ trộn với hương nhang tàn. Mùi ấy chỉ thoáng qua, nhưng về sau mỗi khi sợi thòng lọng xuất hiện, cô đều ngửi thấy y hệt.
Trước khi rời đi, ông Bảy còn quay lại dặn rằng nếu ban đêm nghe tiếng ai gọi từ hành lang thì tuyệt đối đừng mở cửa. Thấy Cúc tròn mắt, ông lập tức cười xòa, bảo chỉ đùa để dọa người mới. Nhưng khi xe vừa lăn bánh, Cúc phát hiện trên nền xi-măng chỗ ông đứng có một vệt bùn hình bàn chân phụ nữ. Vệt chân đi từ cổng vào, dừng ngay sau lưng ông Bảy, rồi biến mất. Ánh lấy dép chà mạnh, vừa chà vừa lẩm bẩm rằng chắc ai giẫm bùn. Thế nhưng mùi từ vệt chân bốc lên không phải mùi đất, mà giống mùi quan tài ẩm vừa được bật nắp.
Ngay từ ngoài cổng, Cúc đã thấy nơi này có gì đó không giống những dãy trọ bình thường. Tấm biển “NHÀ TRỌ BẢY CẦN” treo lệch, những chữ sơn đỏ bong tróc nhìn xa như vệt máu khô. Cống thoát nước chạy dọc sân bị nghẹt bởi tóc, túi ni-lông và thứ bùn đen sền sệt, lâu lâu lại nổi lên một bọt khí rồi vỡ “bụp”, phả ra mùi trứng thối. Phía sau dãy nhà là bãi đất hoang, cỏ cao ngang ngực, giữa đó có một cây bàng già bị sét đánh cháy mất nửa thân. Đàn quạ thường đậu trên cành khô, quay đầu nhìn xuống những ô cửa sổ tầng ba. Lạ nhất là căn phòng cuối dãy: dù trời đứng gió, tấm rèm bên trong vẫn lay động như có người vừa bước qua.
Thấm thoát hai tuần trôi qua yên bình. Thu Cúc làm quen với hai cô gái ở phòng bên tên là Hoa và Mơ - hai công nhân làm việc ở xí nghiệp dệt gần đó. Những buổi tối rảnh rỗi, cả ba lại kê ghế nhựa ra trước mái hiên hóng gió, trò chuyện rôm rả. Đúng lúc này, may mắn lại mỉm cười khi Thu Cúc nhận được thông báo gần chục bài viết cô gửi đi từ mấy tháng trước đều được duyệt đăng, tiền nhuận bút chuyển về tài khoản một khoản khá lớn. Để ăn mừng, Thu Cúc đi chợ sớm mua đồ về nấu một bữa tiệc nhỏ, mời Hoa, Mơ và Ánh đến chung vui. Tuy nhiên, Ánh bận đi du lịch xa cùng gia đình không tới được, chỉ có Hoa và Mơ xin nghỉ ca chiều sang góp vui.
Yên bình là vậy, nhưng mỗi tối khoảng hai giờ mười ba phút, Thu Cúc thường nghe trên trần có tiếng vật nặng bị kéo lê. Âm thanh đi từ đầu hành lang đến cuối dãy, chậm rãi, nhích từng đoạn như ai đó kéo một bao tải chứa đầy thịt ướt. Cúc hỏi Hoa và Mơ thì hai người lập tức im bặt, bảo chắc mèo chạy. Thế nhưng tiếng mèo không thể nặng đến mức làm bụi vôi rơi lả tả xuống tóc cô. Có lần Cúc mở cửa nhìn lên cầu thang, bắt gặp một vệt nước kéo dài trên từng bậc. Cô cúi xuống chạm thử, đầu ngón tay dính thứ nhớt lạnh, mùi tanh ngai ngái. Chỉ vài giây sau, vệt nước tự khô, để lại những sợi tóc dài quấn quanh khe gạch.
Khi bữa tiệc đang rộn rã tiếng cười, Ông Bảy Cần đột nhiên xuất hiện cùng một gia đình mới xách theo nhiều dải hành lý. Ông Bảy Cần đứng ở cửa gõ bàn, gọi Thu Cúc ra góc cổng nói chuyện riêng. Với vẻ mặt khẩn khoản, Ông Bảy Cần trình bày rằng người vợ trong gia đình mới đến bị bệnh thấp khớp nặng không thể leo cầu thang, ông muốn nhờ Thu Cúc nhường căn phòng tầng trệt cho họ và chuyển lên ở căn phòng cuối dãy trên tầng ba. Để bù đắp sự vất vả, Ông Bảy Cần hứa sẽ miễn hoàn toàn tiền trọ ba tháng cho Thu Cúc. Nghe thấy khoản miễn phí ba tháng tiền phòng quá hấp dẫn đối với một sinh viên nghèo, Thu Cúc gật đầu đồng ý ngay và hẹn ngày mai sẽ dọn dẹp chuyển lên.
Trong lúc nói, ông Bảy liên tục né ánh mắt Cúc. Người phụ nữ bị thấp khớp đứng phía xa trông hoàn toàn không có vẻ đau đớn; bà ta còn tự nhấc một chiếc vali lớn khỏi xe. Nhưng khi Cúc định hỏi, ông Bảy đã vội đặt vào tay cô ba tờ biên nhận miễn tiền, như sợ cô đổi ý. Từ ban công tầng ba, một giọt nước đen rơi trúng vai áo Cúc. Cô ngẩng lên, chỉ thấy ô cửa cuối dãy tối om và một khuôn mặt trắng bệch vừa rút khỏi khung cửa. Khi nhìn lại lần nữa, không còn gì ngoài tấm rèm cũ. Ông Bảy cũng nhìn thấy, bởi gương mặt ông lập tức tái xanh. Thế nhưng ông chỉ giục Cúc mau đồng ý, giọng gấp gáp như đang muốn ném một vật hiến tế vào nơi đã chờ sẵn.
Thế nhưng, khi Thu Cúc trở vào phòng vui vẻ kể lại việc chuyển lên tầng ba, khuôn mặt Hoa và Mơ đột nhiên biến sắc, tái nhợt. Hoa hoảng hốt hỏi gắt: "Ông Bảy bắt mày chuyển lên phòng nào trên tầng ba?". Cúc ngơ ngác bảo chưa xem qua vì nghĩ phòng nào cũng giống nhau. Thấy vẻ nghiêm trọng của hai bạn, Cúc gạt đi rồi tiếp tục cuộc vui.
Sáng hôm sau, Thu Cúc thu dọn đồ đạc. Ông Bảy Cần có mặt phụ cô bê thùng hàng lên tầng ba và trao chìa khóa căn phòng cuối dãy. Vừa tra chìa khóa xoay nhẹ mở cánh cửa gỗ, một luồng hơi lạnh buốt giá từ bên trong xộc thẳng ra ngoài khiến Thu Cúc bất giác rùng mình, nổi toàn bộ gai gốc. Cô khựng lại mất mấy giây mới dám bước vào bật đèn. Căn phòng vuông vắn, có sẵn chiếc giường gỗ, bộ bàn ghế cũ và một khung cửa sổ rộng nhìn ra bãi đất trống đằng sau.
Hơi lạnh ấy không giống gió điều hòa hay hơi ẩm thông thường. Nó mang theo mùi tóc ướt lâu ngày, mùi quần áo phơi không khô và một chút hôi ngọt của thịt để quá lâu trong hộp kín. Sàn phòng sạch nhưng ở giữa nhà có một khoảnh gỗ sẫm màu hình người nằm co quắp. Cúc dùng khăn lau mãi, màu đen không nhạt mà còn rịn lên thứ nước vàng nhờn như mỡ. Trong khe tường cạnh giường, cô tìm thấy ba chiếc móng tay phụ nữ đã ngả nâu, trên mỗi chiếc còn dính một sợi da mỏng. Cô rùng mình hất chúng vào thùng rác, nhưng tối hôm đó cả ba chiếc móng lại nằm ngay ngắn trên mặt bàn, xếp thành hình một vòng thòng lọng.
Dọn dẹp xong xuôi, Thu Cúc mệt mỏi nằm vật ra giường rồi thiếp đi lúc nào không hay. Trong cơn mê man chập chờn, cô thấy không gian xung quanh tối om, vài bóng người mờ ảo đứng chập chờn trước mặt nhưng không nhìn rõ ngũ quan. Đúng lúc đó, tiếng chuông điện thoại reo vang dồn dập kéo cô bừng tỉnh. Bắt máy, giọng Hoa bên kia vang lên hoảng hốt: "Cúc ơi! Mày đang ở đâu? Mày chuyển lên phòng nào rồi?". Cúc vừa đọc số phòng cuối tầng ba thì Hoa bên kia lắp bắp rồi cúp máy cái rụp.
Những bóng người kia không đứng yên. Chúng cúi đầu sát vào nhau, hàm dưới chuyển động như đang nhai thứ gì đó. Từ miệng chúng rơi xuống những sợi nhớt đen kéo dài đến sàn. Một bóng gần nhất quay sang Cúc; nơi đáng lẽ là mắt chỉ có hai lỗ rỗng sâu hoắm, bên trong lúc nhúc những con dòi trắng nhỏ. Nó giơ ngón tay chỉ lên trần. Cúc nhìn theo, thấy một cô gái bị treo ngược, tóc quét trên mặt mình. Cổ cô gái dài một cách bất thường, da bị dây nghiến bật ra thành vành tím đen, miệng há rộng nhưng không phát được tiếng. Mỗi lần thân xác đung đưa, đầu lưỡi sưng phồng lại chạm vào trán Cúc, lạnh và nhớp như một con đỉa.
Ít phút sau, tiếng gõ cửa dồn dập vang lên. Mở cửa ra, Hoa đứng bên ngoài khuôn mặt hoảng sợ, nắm chặt tay Cúc kéo lôi ra tận cầu thang rồi gắt lên: "Tự nhiên mày chuyển lên đây làm gì? Căn phòng đó có ma đó!". Vừa lúc đó Mơ đi làm về cũng chạy lên can ngăn. Nhưng Thu Cúc vốn sinh ra ở vùng quê nghèo ven nghĩa địa, từ nhỏ đã quen tiếng trống chiêng đám ma và hay đi nhặt hoa quả cúng ngày rằm nên cô hoàn toàn không tin chuyện ma quỷ. Cô gạt lời hai bạn rồi quay trở vào phòng.
Đến giữa trưa, Thu Cúc khóa cửa ra ngoài ăn cơm. Đi qua tầng trệt, thấy gia đình người vợ thấp khớp đang dọn vào phòng cũ, người chồng vui vẻ vẫy tay chào Cúc. Đến một quán cơm bình dân đông khách gần đó, Cúc gọi món rồi ngồi vào bàn trong góc. Cậu thanh niên phục vụ mang ra hai bát canh. Cúc trả lại một bát bảo mình đi một mình, nhưng cậu phục vụ ngơ ngác khẳng định: "Ủa, lúc cô bước vào quán tôi rõ ràng thấy cô đi sóng đôi cùng một người phụ nữ tóc dài mặc váy xám mà!". Cúc nghĩ cậu ta đông khách nên nhìn nhầm nên không tranh cãi thêm.
Cậu phục vụ còn chỉ vào chiếc ghế đối diện. Trên mặt ghế có một mảng nước loang hình mông người, dù chẳng ai vừa ngồi. Chiếc thìa đặt cạnh bát canh thứ hai tự rung nhẹ, rồi chậm rãi múc một miếng thịt đưa lên khoảng không. Cúc nhìn trân trân. Miếng thịt biến mất giữa chừng như bị một cái miệng vô hình nuốt lấy, ngay sau đó vang lên tiếng nhai lép nhép sát bên tai. Từ bát canh bốc lên mùi hôi tanh. Những cọng rau muống xanh bỗng cuộn lại thành từng búi tóc, còn miếng huyết heo nổi trên mặt nước giống hệt một đầu lưỡi tím tái. Cúc hất đổ bát, nhưng khi mọi người chạy tới, dưới sàn chỉ là canh bình thường. Duy trên cổ tay cô xuất hiện năm dấu ngón tay xanh xám, như người phụ nữ vô hình vừa nắm lấy để ngăn cô bỏ đi.
Hai giờ chiều trở về phòng, Thu Cúc mở chiếc laptop cũ ra để tập trung soạn giáo án chuẩn bị cho bài thi giữa kỳ. Đang cặm cụi gõ máy, màn hình laptop đột nhiên giật mạnh rồi chuyển sang một phông nền màu đỏ mận thẫm. Sau vài giây, máy tính tự động bật trình duyệt web và phát ra một đoạn âm thanh quái dị: tiếng người la hét, khóc lóc thảm thiết gào van van vọng ra từ loa. Thu Cúc hoảng hốt gập phăng màn hình laptop lại.
Âm thanh trong loa không chỉ là tiếng la hét. Xen giữa đó là tiếng dây da kéo ken két, tiếng móng tay cào trên ván gỗ và một giọng nữ khàn đặc lặp đi lặp lại: “Tôi không tự treo... tôi không tự treo...”. Trên nền đỏ hiện lên từng khung hình nhiễu hạt: một cô gái mặc váy xám bị ai đó kéo tóc lôi qua hành lang; một bàn tay đàn ông quấn dây thắt lưng quanh cổ cô; rồi gương mặt ông Bảy lóe lên trong chưa đầy một giây. Cúc chưa kịp nhìn rõ thì màn hình chuyển sang hình ảnh chính căn phòng cô đang ngồi, góc quay từ trên xà nhà. Trong ảnh, sau lưng Cúc có một người phụ nữ cổ gãy nghiêng sang một bên, đang cúi sát và thè đầu lưỡi đen chạm vào tóc cô.
Cô ôm máy tính ra tiệm sửa đồ điện tử ngoài phố. Anh thợ kiểm tra rồi bảo máy chỉ bị nhiễm virus tự mở đường link độc hại, cài lại win là xong nhưng toàn bộ tệp giáo án cô soạn từ trưa đã bị xóa sạch không thể khôi phục. Thu Cúc thở dài gửi máy lại chờ sửa, đến sáu giờ tối mới lấy máy về lại xóm trọ.
Lúc này là chiều thứ Sáu, khu trọ vắng ngắt vì đa số công nhân đã tranh thủ về quê cuối tuần. Leo lên tầng ba, Thu Cúc mệt mỏi thở dốc, đứng vịn lan can xoa ngực. Bước vào phòng bật công tắc, bóng đèn huỳnh quang trên trần nhấp nháy vài cái rồi tắt ngụm, gian phòng chìm vào bóng tối âm u. Cúc bực bội gọi cho Ông Bảy Cần. Ông Bảy hứa sẽ sang ngay, nhưng Cúc chờ suốt hai mươi phút không thấy, gọi lại thì máy báo thuê bao không liên lạc được.
Bất lực, Cúc bật đèn flash điện thoại kiểm tra cầu chì. Cầu chì không cháy, cô hắt ánh đèn flash lên trần nhà thì bàng hoàng trố mắt: ngay giữa xà nhà gỗ, một sợi dây thừng xù xì dài ngoẵng đang cuộn tròn thòng lọng đung đung đay ngay trên đầu cô. Lúc dọn vào phòng, trần nhà hoàn toàn trống trãi, sợi dây này từ đâu xuất hiện?
Sợi dây không khô. Từ những thớ gai xù xì nhỏ xuống thứ nước vàng đục, rơi trúng nền gạch phát ra tiếng “tách” như nước mỡ. Phần nút thòng lọng bám đầy tóc đen và những mẩu da mỏng cuộn lại. Cúc lia đèn lên cao hơn, thấy trên xà gỗ có vô số vết móng cào song song, sâu đến lộ màu gỗ trắng. Giữa các vết cào là dòng chữ nguệch ngoạc được khắc bằng vật sắc: “ÔNG TA SIẾT TÔI”. Điện thoại trong tay Cúc bất ngờ chuyển sang camera trước. Trên màn hình, phía sau vai cô là gương mặt một cô gái phù nề, hai mắt lồi đỏ, quanh cổ hằn một rãnh sâu rỉ dịch đen. Cúc quay phắt lại thì không thấy ai. Nhưng từ trên đầu, một bàn chân lạnh ngắt chạm nhẹ vào tóc cô rồi đung đưa qua lại.
Đúng lúc đó, tiếng gõ cửa vang lên. Ông Bảy Cần bước vào với nụ cười gượng gạo. Cúc cằn nhằn về bóng đèn, Ông Bảy Cần bảo cô ra ngoài chờ. Chỉ ba phút sau, đèn sáng trở lại. Ông Bảy Cần nhìn Cúc với ánh mắt kỳ lạ, định nói điều gì đó rồi lại thở dài lắc đầu bỏ đi. Khi Cúc bước vào tắm rửa xong xuôi, quay lên nhìn trần nhà thì sợi dây thừng kỳ quái kia đã biến mất không một dấu vết.
Thu Cúc tập trung ngồi làm lại giáo án trên laptop, sao lưu trực tiếp lên mạng. Làm xong trang cuối cùng thì đồng hồ đã quá mười hai giờ đêm. Cúc khóa chặt cửa phòng, tắt đèn đi ngủ.
Trong giấc ngủ chập chờn, giấc mộng kỳ quái lại hiện về. Lần này, bốn bóng người đen thui đứng vây quanh giường cô với gương mặt lạnh lẽo. Rồi cả bốn bóng người dạt ra, nhường đường cho một cô gái trẻ mặc váy dài, mái tóc đen rũ rượi che kín mặt bước tới. Bốn bóng đen xông vào khống chế chặt tay chân Thu Cúc. Cô gái trẻ tiến sát lại gần, tỏa ra một luồng hơi lạnh buốt giá truyền thẳng vào cổ Cúc.
Móng tay của chúng xuyên qua da mà không chảy máu, chỉ để lại cảm giác lạnh buốt như bị nhúng vào nước xác. Cô gái tóc dài dùng hai tay nâng mặt Cúc lên. Mái tóc tách ra, để lộ khuôn mặt đã biến dạng: một bên má sưng tím, môi nứt toác, răng dính máu đen khô cứng; quanh cổ là đường rách sâu, mép da cuộn ra như miệng cá. Cô ta há miệng, phả vào Cúc mùi tử khí nồng đến mức cô muốn nôn. Từ cổ họng người chết bò ra một con giòi trắng, rơi lên môi Cúc. Rồi cô ta ghé sát, cố nhét cả hơi thở mục rữa của mình vào miệng người sống. Trong khoảnh khắc ấy, Cúc cảm giác một thứ lạnh lẽo chui qua cuống họng, trượt xuống lồng ngực và quấn quanh trái tim đang đập loạn.
Tiếng chuông điện thoại vang lên liên hồi kéo Thu Cúc bừng tỉnh. Toàn thân cô đau nhức, tay chân nhũn ra không chút sức lực. Bắt máy, giọng Ánh bên kia đầu dây chửi mắng xối xả: "Cúc! Mày bị điên rồi à? Rạng sáng nay mày làm cái trò gì vậy?". Ánh gửi qua một đoạn video ngắn cắt từ camera an ninh trước cổng nhà Ánh: lúc mờ sáng, Thu Cúc mặc đúng bộ quần áo ngủ đang mặc trên người, đứng trước cổng đập cửa đùng đùng, gào chửi Ông Bảy Cần bằng một tông giọng thê lương, quái dị. Thu Cúc bàng hoàng vò đầu bứt tóc, cô hoàn toàn không hề hay biết mình đã mộng du bước ra khỏi trọ từ lúc nào.
Đoạn video dài chưa đầy hai phút nhưng càng xem càng ghê rợn. Thu Cúc không hề đi bằng dáng bình thường; cô kéo lê chân trái, đầu nghiêng gần chạm vai, hai tay buông thõng như người bị bẻ khớp. Mỗi khi ánh đèn cổng quét qua, khuôn mặt cô lại biến thành một gương mặt khác: mắt trợn trắng, lưỡi thè dài, da cổ hằn vòng tím. Cô dùng móng tay cào lên cánh cổng sắt đến bật máu, vừa cào vừa gọi đúng tên đầy đủ của ông Bảy, kể vanh vách ngày giờ và cách ông ta đã giết một người phụ nữ. Đáng sợ nhất là ở giây cuối, camera ghi được phía sau Cúc có bốn bóng đen đứng xếp hàng. Khi Cúc quay lưng bỏ đi, cả bốn bóng cùng ngẩng đầu, cổ chúng đồng loạt gập sang một bên với tiếng “rắc” khô khốc.
Chiều hôm đó, Thu Cúc hẹn gặp Ánh ở quán cà phê để giải thích. Nhưng Ánh tỏ vẻ coi thường, không tin chuyện mộng du và cho rằng Cúc có ý đồ quấy phá gia đình mình. Cuộc trò chuyện căng thẳng kết thúc trong sự bất lực của Cúc.
Trở về phòng trọ mệt mỏi, Thu Cúc nằm gục xuống giường chìm vào mê man. Trong cơn mơ, cô gái trẻ xõa tóc lại xuất hiện đứng giữa phòng. Lần này, cô gái bước tới dưới xà nhà, giơ tay kéo thòng lọng của sợi dây thừng xuống rồi tự tròng cổ mình vào, đung đung đay thân xác đung đung đay ngay trước mặt Thu Cúc. Thu Cúc hét lên một tiếng xé lòng, bừng tỉnh lao ra bật tung công tắc đèn. Đèn sáng, phòng trống không. Nhưng sự chân thực hãi hùng của giấc mơ khiến Cúc run lẩy bẩy. Nhìn đồng hồ mới hai giờ sáng, Cúc quấn chăn ngồi gục ở góc phòng thức cho tới sáng tỏ.
Khi chiếc cổ bị siết căng, hai bàn chân cô gái co giật dữ dội, móng chân cào vào không khí. Một dòng nước tiểu đen chảy dọc theo váy, nhỏ xuống sàn thành vũng. Từ miệng cô trào ra bọt đỏ lẫn những mẩu thịt vụn, nhưng đôi mắt vẫn nhìn Cúc không chớp. Rồi da bụng cô gái phồng lên như có thứ gì bò bên trong. Hàng trăm con kiến cánh chui ra từ lỗ mũi, hốc tai và khóe mắt, bay kín căn phòng. Thân xác bỗng quay chậm lại, để lộ sau lưng không phải nút dây mà là hai bàn tay đàn ông đang ghì siết chiếc thắt lưng da. Một giọng đàn ông thở hổn hển vang lên: “Chết đi thì mọi chuyện mới yên.” Ngay sau câu đó, cái đầu cô gái xoay hẳn một vòng, nhìn thẳng vào Cúc và cười.
Vừa mờ sáng, Cúc gọi cho Hoa. Hoa và Mơ vội vã từ quê lên, đưa Cúc xuống phòng mình trú tạm. Tại đây, Hoa mới tiết lộ toàn bộ lịch sử kinh hoàng của căn phòng cuối dãy tầng ba: Căn phòng đó đã có ma từ hơn một năm trước, không một ai thuê trọ ở quá được một tuần. Cách đây ba tháng, một cặp vợ chồng trẻ dọn vào. Người chồng liên tục mơ thấy một cô gái treo cổ. Đến một đêm, người vợ tỉnh dậy thì thấy chồng mình ngồi thu lu trong góc tường, cất giọng nữ thều thào quái dị: "Tao không phải chồng mày!". Ngay sau đó, người chồng tự lấy dây áo thun tết thành thòng lọng treo lên xà nhà định tự tử, may mắn người trong xóm trọ phá cửa xông vào cứu kịp. Hôm sau người vợ dọn đồ đi ngay.
Hoa kể thêm rằng trước cặp vợ chồng trẻ còn có ba người thuê khác. Một người là công nhân may, sau bốn đêm đã dùng móc áo tự siết cổ đến ngất. Một người bán hàng online liên tục livestream lúc ba giờ sáng, nhưng trong video luôn có phụ nữ váy xám đứng phía sau dù phòng chỉ có mình cô. Người thứ ba là bác bảo vệ già. Bác sống được đúng sáu ngày rồi phát điên, lấy cơm trộn với tóc và gián chết nhai ngấu nghiến, vừa ăn vừa nói “cô ấy đói tám năm rồi”. Sau khi được đưa vào viện, bác không nhớ gì, nhưng trên cổ xuất hiện vết bầm hình dây thắt lưng. Từ đó, người trong xóm gọi căn phòng là “ổ thòng lọng”. Ông Bảy nghiêm cấm nhắc tới cái tên ấy và thường tìm người nghèo, người mới đến, hoặc người không có khả năng chuyển đi để cho thuê.
Nghe xong, Thu Cúc gọi điện cho Ông Bảy Cần đòi trả phòng. Nhưng Ông Bảy Cần lập tức lật mặt, khinh khỉnh đáp: "Cô ở không được thì dọn đi! Từ đầu tới giờ cô đã trả đồng xu chén bạc nào đâu mà hạch sách!".
Trong thế bế tắc không tiền chuyển chỗ mới, Thu Cúc quyết định ra chợ mua một mâm lễ cúng nhỏ gồm hoa quả, nhang đèn và giấy tiền vàng bạc mang lên căn phòng tầng ba làm lễ cúng bái cho vong linh. Đứng trước bàn lễ, Cúc thành tâm khấn nguyện, trình bày hoàn cảnh nghèo khó của mình và xin vong linh cho cô ở tạm vài tháng đợi ký túc xá sửa xong. Thật kỳ diệu, sau lễ cúng đó, Thu Cúc trở về phòng sinh sống thì hoàn toàn bình yên, không còn gặp bất kỳ hiện tượng quái lạ hay mộng mị nào suốt một tuần liền.
Sự yên bình ấy thực ra chỉ là lớp da mỏng phủ lên một thứ đang lớn dần bên trong Thu Cúc. Cô bắt đầu ngủ sâu hơn, sáng dậy thường thấy bùn đất dưới lòng bàn chân, dù cửa vẫn khóa. Móng tay cô dính những sợi cỏ nghĩa địa. Trong điện thoại xuất hiện hàng chục tin nhắn đã gửi cho một số lạ, nội dung chỉ có ngày tháng, hình chiếc thắt lưng và câu “đến trả nợ”. Cúc xóa đi, nhưng tối hôm sau chúng lại trở lại. Cô cũng dần mất khẩu vị với món mình từng thích, lại thèm những thứ kỳ quái như gạo sống, nước lạnh pha tro nhang. Có lần Hoa bắt gặp Cúc ngồi trong phòng tối, dùng lược chải một bộ tóc giả ướt sũng, vừa chải vừa hát bài ru không ai từng nghe.
Mỗi lần soi gương, Cúc thấy khuôn mặt mình chậm hơn cử động thật nửa nhịp. Cô đã quay đi nhưng cái bóng trong gương vẫn nhìn thẳng, rồi từ từ mỉm cười. Vết bầm quanh cổ xuất hiện ngày một rõ, ban đầu chỉ như sợi chỉ tím, sau thành một vòng đen sâu như da bị nung cháy. Khi Cúc chạm vào, dưới lớp da có thứ gì đó cựa quậy, trườn quanh cổ như một con giun dài. Đêm thứ bảy, cô tỉnh giấc với miệng đầy mùi đất. Trên gối nằm một chiếc răng hàm đã mục, chân răng còn dính thịt đen. Cúc ném nó qua cửa sổ, nhưng sáng hôm sau chiếc răng lại nằm trong túi áo cô.
Nhang vừa cắm xuống bát gạo đã cháy bùng ngọn lửa xanh. Mâm quả phủ một lớp sương lạnh, từng trái quýt tự lõm xuống như bị hàm răng vô hình cắn. Từ dưới gầm giường vang lên tiếng nhai chóp chép. Cúc cúi nhìn, thấy một mớ tóc dài đang bò ra, giữa tóc lẫn những con gián trắng nhợt. Chúng bò thành vòng quanh chân cô nhưng không con nào vượt qua vệt tro nhang. Rồi tấm gương trên tường mờ dần, hiện bóng cô gái váy xám đứng sau Cúc. Lần này gương mặt cô không dữ tợn, chỉ méo mó vì đau đớn. Cô ta giơ bàn tay tím bầm, viết lên mặt gương bằng thứ dịch đen: “TÌM MỘ TÔI”. Sau đó ngọn nến tắt phụt, trong phòng vang lên một tiếng khóc dài như vọng từ đáy giếng.
Một tuần sau, Hoa và Mơ lãnh lương mua hải sản về làm tiệc ăn mừng. Thu Cúc mang túi trái cây sang góp vui, nhưng vừa thấy đĩa hải sản, Cúc liền nhăn mặt từ chối: "Tao bị dị ứng hải sản nặng lắm, không ăn được đâu!". Hoa ngạc nhiên vô cùng vì tuần trước chính tay Cúc đã nấu nồi lẩu hải sản ăn mừng nhuận bút. Cúc chỉ ậm ừ lái sang chuyện khác, rồi nở một nụ cười bí hiểm bảo: "Tối nay tao có cuộc hẹn quan trọng lắm!".
Mười giờ đêm hôm đó, trời đổ mưa rào do ảnh hưởng của đợt áp thấp nhiệt đới, bầu không khí se lạnh âm u. Thu Cúc từ trong phòng bước ra ngoài trong một diện mạo hoàn toàn khác lạ: cô mặc một chiếc váy dài quá gối màu đen, tóc búi cao gọn gàng, mắt kẻ vệt đen đậm và đôi môi tô son màu đỏ mận thẫm. Cúc lặng lẽ bước xuống đường leo lên chiếc xe taxi đã đợi sẵn.
Chiếc taxi chạy hơn nửa giờ đồng hồ rồi dừng lại trước cổng nghĩa địa xóm Cầu Đen âm u. Bác tài xế run rẩy hỏi: "Đêm hôm mưa gió cô vào nghĩa địa làm gì vậy?". Cúc chỉ nở một nụ cười lạnh ngắt rồi bước xuống xe, đi thẳng vào giữa những hàng bia mộ lập lòe khói lạnh.
Suốt quãng đường, bác tài liên tục nhìn gương chiếu hậu. Ban đầu ông thấy Cúc ngồi một mình. Nhưng khi xe qua cầu Cầu Đen, ghế sau bỗng có thêm một phụ nữ váy xám, tóc phủ kín mặt, ngồi sát bên Cúc. Nước từ váy người đó chảy xuống sàn xe, mang theo mùi bùn mộ và xác chuột. Bác tài hoảng hốt thắng gấp, quay lại thì ghế trống. Đến lúc nhìn vào gương lần nữa, gương mặt người phụ nữ đã dán sát sau gáy ông, đôi mắt lồi ra và miệng kéo rộng đến mang tai. Ông không dám nhìn nữa, chỉ đạp ga. Khi Cúc xuống xe, trên ghế còn lại một sợi dây thắt lưng da cũ phủ đầy dòi, nhưng chớp mắt một cái nó biến thành dải bùn đen.
Cúc dừng lại trước một nấm mồ đắp đất cỏ mọc um tùm dưới gốc cây bàng cổ thụ. Ở phía đối diện, Ông Bảy Cần đang đứng tựa lưng vào gốc cây hút thuốc lá, nét mặt đầy vẻ hoảng loạn. Ông Bảy Cần chìa màn hình điện thoại ra, giọng run run tra hỏi: "Mày... mày gửi những tin nhắn này đúng không? Mày là ai mà biết chuyện của con Thắm?".
Mưa làm đất quanh mộ nhão ra. Mỗi lần sấm lóe, ông Bảy lại thấy dưới lớp đất có những ngón tay trắng bệch thò lên rồi rụt xuống. Khói thuốc của ông không bay lên mà cuộn thành hình một khuôn mặt phụ nữ bị bóp cổ. Dưới chân bia mộ, hàng trăm con giun bò khỏi đất, quấn lấy nhau thành chữ “TÁM NĂM”. Ông Bảy giẫm loạn xạ, nhưng càng giẫm, giun càng vỡ ra thứ dịch đỏ nâu bắn đầy ống quần. Trong tiếng mưa, ông nghe tiếng dây lưng bật khóa “tách” ngay sau lưng. Đó chính là âm thanh cuối cùng Thắm từng nghe trước khi cổ bị siết chặt.
Thu Cúc (lúc này ánh mắt đã chuyển sang màu đỏ ngầu quái dị) bước tới vuốt nhẹ tấm bia mộ đất, cất giọng cười khẩy thều thào: "Ông không nhận ra tôi sao? Thắm đây mà!".
Ông Bảy Cần giật mình lùi lại mấy bước, mặt cắt không còn một hạt máu. Tội lỗi kinh hoàng tám năm về trước chính thức bị bóc nát. Tám năm trước, Thắm - một cô gái làm nghề trang điểm tự do - đến thuê phòng trọ của Ông Bảy Cần. Ông Bảy Cần tán tỉnh, dối trá rằng mình đã ly hôn vợ. Khi sự việc bị phát giác, vợ Ông Bảy Cần kéo người đến đánh ghen dữ dội, dọa sẽ gửi ảnh nhạy cảm về quê cho gia đình Thắm. Ông Bảy Cần hẹn Thắm lên căn phòng cuối dãy tầng ba cho một khoản tiền bắt cô dọn đi để cắt đứt liên lạc. Trong lúc xô xát cãi vã, Ông Bảy Cần mất kiểm soát đã dùng chiếc dây thắt lưng da siết cổ Thắm đến chết.
Thắm khi ấy không chết ngay. Trong lúc ông Bảy siết dây, cô quỳ xuống cào cấu sàn gỗ, mười đầu ngón tay bật móng, để lại những vệt máu dài. Cô cố gọi cứu nhưng lưỡi bị ép trồi ra, âm thanh chỉ còn là tiếng khò khè. Ông Bảy sợ hàng xóm nghe thấy nên nhét một chiếc khăn vào miệng cô, tiếp tục kéo đến khi xương cổ phát ra tiếng rắc. Sau khi Thắm ngừng giãy, bụng cô vẫn co thắt, chân đạp nhẹ từng nhịp. Ông ta ngồi cạnh xác suốt gần một giờ, nhìn nước dãi lẫn máu chảy xuống ngực váy. Để dựng hiện trường giả, ông kéo thân thể cô lên xà. Vì xác đã cứng, đầu Thắm ngoẹo sang một góc quái dị. Khi ông Bảy buông tay, hai mắt người chết bất ngờ mở bật, nhìn thẳng vào ông. Từ khoảnh khắc đó, ông không còn ngủ trọn một đêm nào.
Sau khi gây án, Ông Bảy Cần hoảng loạn rồi dựng lên hiện trường giả một vụ treo cổ tự tử. Ông ta dùng tiền đút lót cho phía khám nghiệm tử thi làm qua loa, đồng thời mang một khoản tiền lớn về quê bịt miệng người cha nát rượu của Thắm để ông ta đồng ý đóng hồ sơ vụ án, nhận xác con về chôn cất. Tội ác trôi qua êm đềm suốt tám năm, nhưng vong hồn Thắm vẫn quẩn quanh oán uất ở căn phòng tầng ba. Cho đến khi Thu Cúc dọn vào, linh hồn Thắm đã mượn xác Cúc, dùng điện thoại gửi những tin nhắn đe dọa và hẹn Ông Bảy Cần ra trước phần mộ tạ tội.
Ngay khi sự thật vừa dứt, Thu Cúc (trong trạng thái bị hồn Thắm nhập) bất ngờ rút từ trong túi xách ra một con dao gọt trái cây sắc nhọn, lao vào chém tới tấp về phía Ông Bảy Cần. Ông Bảy Cần hoảng hốt né tránh, bị nhát dao xẻ rách một đường dài trên cẳng tay phải. Ông ta ôm vết thương máu chảy lênh láng, gào lên thảm thiết rồi quay đầu chạy thục mạng ra khỏi nghĩa địa. Thu Cúc đuổi theo vài bước thì phước lực cạn kiệt, cô ngã gục xuống nền đất ướt ngất đi.
Khi tỉnh lại, Thu Cúc nhận ra mình đang nằm trong bệnh viện, bên cạnh là Hoa và Mơ. Hai cô bạn kể lại rằng đêm qua thấy Cúc ăn mặc kỳ lạ đi ra ngoài nên đã lén đi taxi bám theo. Khi được hỏi về vụ tấn công Ông Bảy Cần, Cúc ngơ ngác hoàn toàn không nhớ bất kỳ chi tiết nào.
Hoa và Mơ bàng hoàng kể tiếp: Ngay sau khi Ông Bảy Cần chạy thoát khỏi nghĩa địa trở về xóm trọ, trong trạng thái hoảng loạn tột cùng vì bị ma đuổi, ông ta đã đi thẳng lên căn phòng cuối dãy tầng ba của Cúc, tự tay tết một sợi dây thừng rồi treo cổ tự tử ngay trên chiếc xà nhà gỗ - đúng nơi tám năm trước ông ta đã siết cổ sát hại cô gái trẻ.
Người ta phá cửa khi nghe tiếng xà nhà kêu cót két. Ông Bảy đã treo mình lên bằng chính chiếc dây thừng từng dùng để sửa mái. Nhưng thi thể ông không chỉ đơn giản đung đưa. Hai bàn tay ông cào nát cổ như muốn gỡ một vật vô hình, móng tay bứt ra, da dưới cằm rách thành từng mảng. Miệng ông nhét đầy tóc phụ nữ, sâu đến tận cuống họng. Trên ngực có những dấu chân bùn nhỏ đi từ bụng lên cổ, như ai đó đã đứng trên người ông để kéo dây. Khi hạ xác xuống, mọi người thấy sau gáy ông hằn thêm một vết siết mảnh bằng dây da, chồng lên vết dây thừng mới. Còn trên xà nhà, bằng thứ nước đen đặc, có một câu viết nguệch ngoạc: “NỢ MÁU ĐÃ TRẢ”.
Cái chết của ông Bảy còn để lại một chi tiết không ai dám kể lớn tiếng. Khi nhân viên nhà xác lau rửa thi thể, họ phát hiện trong dạ dày ông có một búi tóc dài gần nửa mét, lẫn với những mảnh giấy tiền vàng bạc chưa cháy hết. Hai phổi đầy thứ bùn đen giống đất quanh mộ Thắm, dù ông chết trên tầng ba. Người phụ trách khâm liệm vừa khép mắt ông lại thì mí mắt tự bật mở. Tròng mắt đã đục nhưng vẫn quay về hướng căn phòng cuối dãy. Đến lúc nhập quan, từ cổ họng ông phát ra tiếng nữ thì thầm rất rõ: “Tám năm... đủ rồi.” Sau đó toàn bộ bóng đèn nhà tang lễ cùng tắt phụt, còn trên nắp quan tài xuất hiện năm vệt móng tay ướt như vừa có người cào từ bên trong.
Ba ngày sau, Thu Cúc xuất viện. Cô đưa ra một quyết định bất ngờ: tiếp tục trở về sinh sống tại căn phòng cuối dãy tầng ba, trả tiền phòng đầy đủ cho Ánh cho đến khi ký túc xá trường tu sửa xong. Kỳ lạ thay, từ sau cái chết của Ông Bảy Cần, căn phòng trở nên ấm áp, bình yên lạ thường, không còn bất kỳ hiện tượng quái dị nào xảy ra nữa. Và cứ đều đặn vào ngày rằm hàng tháng, người ta lại thấy Thu Cúc chuẩn bị một mâm hoa quả tươi, lặng lẽ chạy xe ra nghĩa địa xóm Cầu Đen để thắp nhang, quét dọn cho ngôi mộ đắp đất của Thắm.
Dù căn phòng không còn tiếng khóc, đôi khi vào đêm rằm, Thu Cúc vẫn nghe tiếng lược chải tóc rất khẽ bên cửa sổ. Cô không còn sợ. Cô đặt một chén nước sạch, một chiếc gương nhỏ và nhành hoa trắng trên bàn. Sáng hôm sau, nước thường vơi đi một nửa, trên gương có dấu ngón tay mảnh. Ngoài nghĩa địa, ngôi mộ Thắm dần sạch cỏ. Không ai biết mỗi lần Cúc thắp nhang, phía sau cô luôn có bóng người phụ nữ váy xám đứng lặng. Gương mặt người ấy không còn sưng tím, cổ không còn vết siết. Chỉ khi gió thổi qua cây bàng, chiếc bóng mới hơi nghiêng đầu như cúi chào rồi tan vào khói nhang.
(Đoạn kết nhân quả)
Lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó thoát. Tội ác dẫu có chôn sâu dưới tớp bụi thời gian, dẫu có dùng tiền bạc và sự gian dối để lấp liếm nơi trần thế, thì cái hận máu cõi âm vẫn luôn đeo bám không rời. Kẻ thủ ác gieo nhân dã man thì cuối cùng phải tự tay gặt lấy quả đắng thảm khốc, trả giá bằng chính mạng sống của mình ngay tại nơi mình đã gây ra tội lỗi.
Có những cái chết được ghi trong hồ sơ là tự tử, nhưng mặt đất, bức tường và chiếc xà nhà đều biết sự thật. Chúng giữ lại tiếng móng tay cào, mùi máu cũ và hơi thở cuối cùng của nạn nhân. Chúng chờ đúng người, đúng lúc, đúng món nợ để trả lại. Bởi vậy, đừng nghĩ rằng chỉ cần chôn xác sâu là chôn được tội lỗi. Thịt sẽ thối, xương sẽ mục, nhưng oán niệm có thể bám vào một sợi tóc, một chiếc dây lưng, một căn phòng, rồi sống lâu hơn cả kẻ gây án.
Sống trên đời, hãy luôn giữ lòng thiện lương, tránh xa những dục vọng thấp hèn và hành vi tà ác. Sự từ bi và đạo lý làm người chính là ngọn đèn soi sáng, bảo vệ con người trước những vũng lầy của nghiệp báo cõi âm.


Nhận xét
Đăng nhận xét