Từ Nhỏ Đã Nhìn Thấy Ma… Người Đàn Bà Xách Đèn Báo Trước Cái Chết Của Em Bé
Người đời thường rỉ tai nhau, ranh giới giữa cõi âm và cõi dương đôi khi chỉ mỏng manh như một hơi thở lạnh giữa đêm thâu. Ở những xóm nghèo ven sông, nơi tiếng bìm bịp kêu nước ròng nghe não ruột, người ta kiêng kỵ nhất là tiếng trẻ con khóc thét lúc nửa đêm, bởi đó là lúc những vong hồn vất vưởng, những kẻ khuất mặt khuất mày đang lang thang thèm khát tình thân nương náu. Câu chuyện dưới đây là một chuỗi oan nghiệt trải dài theo năm tháng, bám riết lấy số phận một người con gái từ lúc mới lên mười cho đến khi quá nửa đời người. Nó bắt đầu từ một đêm đen mịt mù, nơi một ánh đèn măng sông rực sáng thắp lên bi kịch tột cùng của máu mủ tình thâm.
Đó là những năm tháng sau mốc 1975, cái thời mà cái đói, cái nghèo càn quét khắp chốn. Gia đình Loan vốn bám trụ ở Quận 11, nhưng khốn khó bủa vây đành phải tính đường đi kinh tế mới. May thay, người bà ngoại ở vùng Vũng Liêm gọi về cho nương nhờ, cắt cho nửa công đất cắm sào cất mái nhà lá. Nhà nghèo xơ xác, đông lúc nhúc tới mười mụn con nheo nhóc. Cả nhà phải nai lưng bươn chải, làm thuê làm mướn đủ nghề để kiếm miếng cơm bỏ bụng qua ngày.
Năm 1982, lúc Loan vừa tròn mười tuổi, mẹ cô bụng mang dạ chửa rồi sinh thêm một bé trai út. Phụ nữ luống tuổi lại lam lũ đói ăn, mẹ Loan cạn kiệt bầu sữa sữa. Không có tiền mua thứ sữa bột đắt đỏ như bây giờ, bà đành dốc những đồng cắc lẻ mua loại bột nhi đồng rẻ tiền – thứ bột quậy lên nhão nhoét, nhạt tuếch chỉ để cho đứa trẻ bú dặm đắp đổi qua cơn đói.
Khi thằng bé út được độ bảy tháng tuổi, một sự kiện kinh hoàng đã giáng xuống, mở màn cho chuỗi bi kịch gia đình.
Khoảng một, hai giờ sáng đêm đó, trời tối mịt mù, sương lạnh buốt tạt qua liếp lá, thằng út bỗng tỉnh giấc khóc ngặt nghẹo đòi sữa. Mẹ Loan lồm cồm bò dậy, một tay bế con dỗ dành, một tay hối hả khuấy ca bột nhi đồng bú dặm. Bột vừa quấy xong còn nóng hổi, bà gọi giật Loan dậy: "Đem bình sữa ra chái bếp sau nhà, dìm vô cái lu nước ngâm cho nguội bớt rồi đem vô cho em bú lẹ lên!".
Đứa con gái mười tuổi ngái ngủ, ôm bình sữa lầm lũi đi ra chái bếp tối đen như mực. Đứng bên cạnh lu nước, hai tay Loan vịn chặt thân bình dìm xuống làn nước lạnh buốt. Ngay lúc đang nhúng bình sữa, ánh mắt con bé vô tình lia về phía sau buồng ngủ của bà ngoại – nơi có một bụi tre gai cổ thụ rậm rạp, um tùm.
Từ giữa rễ bụi tre gai đen ngòm ấy, một luồng ánh sáng chói lòa bỗng phát ra. Ánh sáng lờ lợ trôi dần về phía nhà. Khi khoảng cách thu lại chừng mười thước, Loan điếng hồn nhận ra trong vầng sáng đó là hình bóng một người đàn bà. Bà ta bới mái tóc củ tỏi cao vót theo kiểu phụ nữ thời xưa, khoác trên người chiếc áo màu phèn đã ố vàng xỉn màu vì cũ nát, mặc chiếc quần lụa đen. Trên tay bà ta xách lủng lẳng một chiếc đèn sáng chói lóa tựa đèn măng sông, bà ta bước tới đâu, ánh sáng tỏa ra sáng rực cả một góc vườn đêm tới đó.
Loan chôn chân tại chỗ, trố mắt nhìn luồng sáng quái gở tiến lại. Khi người đàn bà chỉ còn cách lu nước chừng năm bước chân, khuôn mặt dưới luồng ánh sáng dị bợm hiện rõ mồn một. Đôi mắt bà ta to thao láo, nhưng quái lạ thay, phần đuôi mắt lại chảy xệ xuống, gập cong như hai cái lưỡi liềm.
Đứa bé mười tuổi chưa rành cõi âm, ngây ngô cất tiếng hỏi: "Dì ơi... dì... dì kiếm ai? Dì lại đây chi dì?".
Người đàn bà không hề có vẻ nanh nọc ma quái, nhưng khi khẩu hình bà ta vừa nhếch lên, một giọng nói nhừa nhựa, âm vang lùng bùng không biết phát ra từ đâu dội thẳng vào màng nhĩ Loan:
"Tao đến đây để bắt em mày... Đúng bảy tháng tao sẽ đem nó đi. Mà em mày chết... là tại mày đó...".
Cái giọng nói đục ngầu, eo éo kéo dài ở những từ cuối khiến da gà da vịt Loan nổi lên cồn cộm. Ánh mắt cong xệ kia chọc thẳng vào cô. Quá khiếp đảm, Loan giật phắt bình sữa, cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng vô nhà, khóc nức nở: "Má ơi! Má! Có cái bà nào xách đèn đứng ngoài kia kìa, bả thấy ghê quá!".
Mẹ Loan hậm hực ngó ra ngoài cửa sau, nhưng trước mắt bà chỉ là một màn đêm đen kịt, vắng lặng, chẳng có ánh đèn măng sông, cũng chẳng có bóng người đàn bà búi tóc nào cả. Bà bực dọc gắt: "Bà nào? Tao có thấy bà nào đâu! Mày đi ra ngâm sữa cho em mau lên!".
Nhưng Loan nhất quyết ghì chặt lấy khung cửa, run rẩy mếu máo: "Không, con không ra đâu! Có cái bà xách đèn... Bả đứng ngoài đó bả nói bả đòi bắt em mình đi! Bả nói đúng bảy tháng bả bắt em đi, mà em chết là do con!".
Nghe câu nói gở mồm gở miệng, cơn thịnh nộ bốc lên ngùn ngụt, mẹ Loan vung tay giáng thẳng một bạt tai nổ đom đóm mắt xuống mặt đứa con gái nhỏ: "Kêu mày đi ngâm sữa mày làm biếng, mày đi đặt điều trù ẻo em mày hả? Bà nào? Tao đẻ mày ra mày đặt điều hả?". Cú tát trời giáng khiến Loan ngã nhào, ôm mặt khóc tức tưởi. Nỗi oan khuất không thể dùng lời trẻ con để giãi bày, từ đêm đó, cô cắn răng nuốt sự sợ hãi vào bụng, không bao giờ dám nhắc đến người đàn bà xách đèn ấy nữa.
Nhưng lời nguyền rủa từ cõi âm không bao giờ là lời nói suông. Đúng bảy tháng sau, khi câu chuyện tưởng như đã vùi sâu vào quên lãng, án mạng tâm linh đã gõ cửa.
Ngày ấy mẹ Loan làm nghề bán vé số, mỗi tấm vé chừng 50 xu. Sáng sớm tinh mơ, bà cho thằng út bú xong là xách xấp vé số đi bộ dạo khắp xóm, đến cữ 10, 11 giờ trưa mới tạt về đem mớ đồ ăn. Cơm nước xong xuôi, bà lại lầm lụi đi bán đến sẩm tối. Công việc ở nhà là một tay Loan bồng bế, đưa võng cho em và lo cơm nước quét tước.
Một buổi xế chiều nọ, công việc vẫn y như thường lệ. Thằng út hôm nay quái lạ, ngủ say li bì trên võng không khóc quấy. Loan thấy vậy mừng thầm, tranh thủ nó ngủ liền nhẹ tay ra quét dọn nhà cửa, dọn dẹp bếp núc. Trùng hợp lúc đó người mợ út (em dâu của mẹ Loan) ở gần nhà ngoại chạy sang chơi. Thấy trời đã chạng vạng tối mà đứa nhỏ vẫn ngủ im lìm, mợ út mới giục: "Sao không đánh thức em dậy, mẹ mày gần về rồi mà mày để nó ngủ giờ này?".
Loan xua tay phân trần: "Mợ đừng kêu nó dậy, để cho nó ngủ đi đặng con rảnh tay con làm công chuyện".
Chỉ một lát sau, mẹ Loan đi bán vé số bước vào nhà. Thấy con trai vẫn nằm trên võng, bà vứt xấp vé số ế, tiến lại vừa nựng nịu bồng thằng bé lên vừa trách yêu: "Sao bữa nay ngủ dữ vậy con...".
Thế nhưng, khi đôi tay người mẹ vừa nhấc đứa trẻ lên khỏi mặt võng, cơ thể nó oặt ẹo, mềm nhũn như cọng bún. Da mặt thằng bé xanh dờn như đọt chuối non, máu đen ngòm từ trong cuống họng trào ra tứa lưa, hai lỗ tai cũng rỉ máu túa ra ướt đẫm. Thằng bé đã chết tự bao giờ.
Tiếng thét xé lòng vỡ vụn cả xóm nghèo. Gia đình ngoại nghe tiếng la hoảng hốt chạy sang dồn dập, nhưng chẳng ai cứu nổi một sinh linh đã đứt bóng. Trong cơn điên loạn vì mất con, ánh mắt người mẹ sùng sục lửa hận đục ngầu quay sang nhìn Loan. Nhớ lại chuyện cũ, cộng thêm việc Loan để em ngủ li bì không coi ngó, bà trút lên đầu con gái một trận đòn chí tử.
"Tại mày! Tại mày làm cho nó chết! Sao mày để cho nó ngủ hoài không chịu kêu dậy? Phải mày kêu nó thì nó đâu có chết! Mày dỗ em kiểu gì mà giờ này nó không dậy mày không lại coi?".
Mẹ Loan gào thét, đánh đập vùi dập đứa trẻ mười tuổi. Loan chỉ biết cuộn tròn trên sàn đất, ôm đầu khóc nấc lên từng hồi, lòng nát tan không hiểu vì sao mình mang tội giết em. Sau khi đưa thi hài thằng bé đi chôn cất ở Đất Thánh (vì gia đình ngoại theo Công giáo), mẹ Loan triệt để tàn nhẫn. Bà ném đồ đạc của con bé ra cửa, thẳng thừng từ mặt, đuổi Loan ra khỏi nhà, mặc kệ con gái đi đâu thì đi sống thác mặc bay.
Một đứa bé mười tuổi, bơ vơ giữa trời đất, bị chính mẹ ruột hắt hủi vì một nguyên cớ cõi âm không thể phân bua. Loan chỉ biết khóc dãy khóc dụa, lầm lũi đi bộ sang nhà ngoại xin tá túc qua ngày. Hai mẹ con dẫu ở sát vách, kế bên nhau, nhưng suốt bao nhiêu năm ròng rã về sau, mẹ Loan thà bước ngang qua cũng không thèm đánh mắt nhìn đứa con gái ruột lấy một lần.
Hai năm đằng đẵng trôi qua kể từ ngày mang tiếng oan giết em. Năm ấy Loan mười hai tuổi. Một buổi chiều chạng vạng, ánh hoàng hôn đỏ ối hắt những tia sáng cuối cùng xuống xóm nhỏ, Loan ngồi bó gối rầu rĩ trước cửa nhà ông ngoại, hướng mắt nhìn ra mảnh vườn u tịch. Gần đó có một cây dừa già thân cao vút. Bất thình lình, từ trên ngọn dừa tuốt luốt trên cao, một cục lửa tròn vo cỡ trái banh lông lốc lăn dọc theo thân dừa rớt bịch xuống đất. Lửa vừa chạm đất liền phụp tắt ngấm.
Từ dưới chân gốc dừa lờ mờ sương tối, một bóng người lóp ngóp đứng thẳng dậy. Loan rùng mình trợn mắt ngó. Kẻ đứng đó mang một hình thù quái gở: vóc dáng lùn tịt như một đứa trẻ nít, nhưng khuôn mặt thì nhăn nheo già nua, râu tóc bạc trắng xõa xượi. Lão già lùn lừ lừ quay mặt về phía Loan, bất thần tuột cạp quần xuống, thản nhiên tè bậy vào gốc dừa. Vừa tè, lão vừa nhếch mép cười xếch lên một nụ cười rợn tóc gáy. Đứa trẻ mười hai tuổi chưa từng biết ma quỷ là gì, nhưng nhìn nụ cười đó cũng hoảng hồn bạt vía. Loan chạy thục mạng vào nhà, kéo áo ông ngoại kêu thất thanh. Khi ông ngoại vừa bước ra tới nơi, lão già cõi âm kia vẫn đứng y vị trí cũ, cái quần vẫn buông thõng. Lão lừ mắt dòm ông ngoại, nở nụ cười ma quái lần thứ hai rồi thoắt cái tan biến vào không khí.
Sau bận ấy, ông ngoại mới trầm ngâm kể lại. Thời chiến tranh tao loạn, có một ông già thân hình nhỏ thó, không rõ quê quán lạc bước tới đây. Ổng bị thương nặng lắm, cố lết tới dựa lưng vào gốc dừa đó rồi trút hơi thở cuối cùng. Xóm giềng thương tình đem chôn ở khu mả lạng, nay không hiểu sao lại hiển linh trêu chọc người sống.
Ngay trong đêm hôm thấy ma gốc dừa ấy, Loan chìm vào một giấc mộng mị. Trong cơn mơ, hình bóng người đàn bà cầm đèn măng sông hai năm trước lại hiện về. Đôi mắt cong xệ như hai lưỡi liềm của bà ta vẫn thao láo dòm cô, nhưng lần này không xách đèn mà đi tay không, miệng cười tươi rói. Bà ta tiến sát mặt Loan, thì thào rành rọt từng chữ: "Tao không có con, thành ra tao bắt em mày về làm con của tao rồi. Nhà của tao, ở cách nhà bà ngoại mày đúng hai căn...". Nói dứt câu, bóng bà ta tan vào sương lạnh.
Sáng hôm sau tỉnh mộng, Loan đem toàn bộ sự tình từ lúc thằng út mất đến giấc mơ đêm qua kể rành rọt cho bà ngoại nghe. Bà ngoại sững sờ, vỗ đùi đánh đét rồi than trời: "Thôi chết tao rồi! Người đó là em út của tao! Hồi đó nó lỡ thời, mãi tới ba tư tuổi mới có tấm chồng nhưng ngặt nỗi không đẻ được mụn con nào. Có chồng được ba năm thì nó mắc bệnh ung thư gan rồi chết. Chắc nó khát con quá, thấy mẹ mày đẻ đông nên nó bắt thằng út đi cho hạp mệnh...". Dẫu nguồn cơn cõi âm đã rõ mười mươi, nhưng khi ngoại kể lại cho mẹ Loan, bà vẫn một mực gạt đi, tuyệt nhiên không tin, và vẫn ôm nỗi hận đứa con gái "sát em" trong lòng.
Đến năm Loan mười lăm tuổi, xóm nghèo thất mùa đói kém, cô phải theo chân ông bà ngoại xuôi xuồng xuống tận miệt Sóc Trăng đi gặt lúa mướn. Dân đi cắt lúa xứ người ban đêm không có chốn nương thân, gặt đến đâu thì bẻ lá, cắm cây ngủ bạt ngàn trên những bờ đê giữa đồng không mông quạnh. Xứ đồng hoang, cứ chừng bảy giờ tối khi mặt trời vừa khuất dạng là ranh giới âm dương lại mở rạch. Mấy đêm liền, Loan tận mắt chứng kiến hiện tượng "ma đuốc" nổi da gà. Chẳng phải là dăm ba đốm ma trơi xanh lơ lắt lay, ma đuốc to bằng cả cái tráp, sáng rực như có ai đang giơ cao ngọn đuốc giữa trời, lơ lửng cách mặt đất chừng hai mét. Nó lao vút đi vun vút ngang qua những ngọn lúa với tốc độ như người đạp xe đạp, bay thành một vệt dài vắt ngang cánh đồng tối thẫm. Dân gặt lúa mướn thấy ma đuốc thì rùng mình, mạnh ai nấy co rúm trên bờ đê, chẳng ai dám ho he nửa lời.
Thời gian trôi đi, Loan lớn lên thành thiếu nữ rồi trói buộc nợ duyên với Duy, một người đàn ông dạn dĩ. Bản thân Duy trước khi gặp cô cũng từng trải qua những màn chạm trán cõi âm lạnh sống lưng. Thuở Duy còn học lớp mười hai, ở trọ học gần khu vực nhà thờ Minh Đức. Sáng hôm đó, người ngợm rã rời, Duy nằm bẹp trên giường định cúp luôn tiết Toán. Đang thiu thiu nửa tỉnh nửa mê, Duy nghe văng vẳng tiếng thằng bạn học thân thiết đi ngang phòng gào gọi: "Duy ơi Duy! Dậy đi học mày ơi! Duy ơi!". Nghe tiếng réo, Duy lồm cồm bò dậy, vớ đại bộ quần áo ôm cặp chạy tót ra cửa nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng dáng thằng bạn đâu.
Chạy vội vào lớp đã thấy thằng bạn ngồi chình ình đó. Duy trách sao réo mà không đợi, thằng bạn trố mắt ngạc nhiên bảo sáng nay nó đi ké xe đạp của đứa khác đi thẳng tới trường, có tạt qua nhà trọ gọi Duy đâu! Sống lưng lạnh toát, cơ thể lại nặng trĩu lừ đừ, Duy xin phép thầy về phòng nghỉ sớm. Vừa bước vô phòng trọ vắng ngắt, anh quăng cặp cái cạch lên bàn rồi ngả lưng xuống chiếc ghế băng dài giả salon. Vừa gác đầu lên thành ghế nhắm mắt lại, một cảm giác tê rần chạy dọc toàn thân. Duy hé mắt nhìn, thấy ngay cầu thang từ tầng trên có một người đàn bà trung niên lạ hoắc lững thững bước xuống. Mụ ta mặc bộ đồ thổ cẩm của người dân tộc mạn miền Trung. Duy muốn vùng dậy nhưng toàn thân cứng đờ, bị bóng đè không sao cựa quậy được, đôi mắt cứ phải mở trừng trừng chịu trận.
Bóng ma tiến lại gần, ngồi phịch xuống ngay sát hông Duy. Đột nhiên, hai cánh tay lạnh lẽo của mụ vươn ra, tóm chặt lấy đầu anh ghì mạnh xuống ngực. Kinh hãi thay, bộ đồ dân tộc lúc nãy biến đâu mất, mụ ta giờ cởi trần trục lụi, để lộ hai bầu ngực khổng lồ trắng dã, ép chặt khuôn mặt Duy vào đó ngột ngạt không thở nổi. Bị ma nữ trêu ghẹo ép nghẹt thở, Duy ớ ớ trong cổ họng. Trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, bản tính gan lỳ trỗi dậy, Duy dồn hết chút sức tàn cuối cùng, vươn một tay bấu chặt vào thành ghế cái rụp rồi giật nảy tung người lên. Bóng ma đàn bà tan biến. Duy bừng tỉnh, mồ hôi mẹ mồ hôi con túa ra như tắm ướt sũng áo. Trận sợ mất mật ấy thế mà làm anh toát mồ hôi vã cả bệnh. Anh kinh hồn bạt vía, gom đồ chạy tức tốc khỏi khu trọ quỷ ám đó.
Sau này, Loan và Duy lấy nhau, sinh hạ được ba mặt con. Cái nghèo vẫn đeo bám dai dẳng. Năm đứa con út mới lên ba tuổi, bão lớn ập tới làm sập nát căn nhà lá tồi tàn của hai vợ chồng. Bí bách đường cùng, Duy đành vác mặt sang nhà người thím xin tá túc tạm ở căn nhà tường xây dở bỏ hoang của ông bác ruột đã mất. Căn nhà này vốn mang nặng ác nghiệp. Ngày trước lúc mướn thợ xây cất, ông bác tính tình cay nghiệt, bủn xỉn, không cho thầu khoán mà mướn làm công nhật rồi chửi bới, đay nghiến thợ thuyền thậm tệ vì sợ họ câu giờ. Trong đám thợ uất ức, có kẻ đã ra tay ếm bùa lỗ ban vào mảnh đất. Cất nhà xong, ông bác vô ở làm ăn lụn bại, đổ bệnh ngặt nghèo rồi bỏ mạng. Thím sợ quá dọn đi biệt xứ, để nhà bỏ hoang suốt hai năm trời.
Những ngày đầu dọn vô, mọi thứ bình lặng. Duy tính tình không tin ma quỷ, tối nào cũng xách đồ lặn lội đi giăng câu cắm trúm. Loan ở nhà buồn tẻ, chập tối lại ẵm đứa nhỏ sang xóm coi cọp tivi, để hai đứa lớn ở nhờ nhà nội. Cứ tầm mười một giờ đêm, cô bế con lội bộ về. Đêm đầu tiên, vừa đặt chân bước qua bậu cửa, từ trong không gian tối om của căn nhà bỗng dội ra một giọng đàn bà the thé, nhừa nhựa: "Về rồi... về rồi... Thôi, mẹ con mình đi ăn trộm bò con ơi...". Câu nói vô nghĩa, lạnh ngắt vang vọng đập vào màng nhĩ. Loan sững người, bước nhanh vào trong bật đèn nhưng nhà trống huơ trống hoác, chẳng có ma nào. Sáng ra kể lại, Duy gạt phắt đi: "Trời ơi, tao làm mệt muốn chết, cứ mở miệng ra là ba cái vụ ma cỏ!".
Nhưng những đêm sau đó, cứ đi coi tivi về tới bậu cửa là câu nói ám ảnh kia lại cất lên: "Về rồi... Thôi mẹ con mình đi ăn trộm bò con ơi". Quá bứt rứt, một đêm Loan bế con rón rén đi thật êm, đột ngột lao xộc thẳng vô nhà. Vừa vọt tới giữa gian phòng, cô chết điếng. Lù lù giữa nhà là một mụ đàn bà thân hình mập mạp to như hộ pháp, đen ngòm như một cục than khổng lồ. Cái đầu mụ ta chỏm bom, tóc tai bù xù xõa xượi, đứng sừng sững trừng mắt dòm ra cửa. Loan rú lên thất thanh, ôm rịt lấy con cắm đầu cắm cổ chạy thẳng qua nhà ông bà nội ngủ nhờ, dẫu trời có sập cũng không dám quay lại. Sáng về kể lại cho chồng, Duy vẫn chứng nào tật nấy, quát ầm ĩ chê vợ bày trò thần hồn nát thần tính.
Thế nhưng, oan hồn trong nhà đâu chỉ nhắm vào Loan. Thằng út ba, bốn tuổi chiều nọ hoảng hốt cắm đầu chạy vô nhà mét mẹ: "Mẹ ơi! Có mấy đứa trần truồng nó leo rào, chuyền cành trên cây xoài ngoài sân kìa, nó đu qua đu lại y như con khỉ vậy!". Loan chạy ra coi thì lặng ngắt. Đứa con trai thứ hai, lúc ấy trạc tuổi lên mười, trưa trưa ngồi học bài ở bàn thì bỗng nghe hơi lạnh phả sau gáy, tiếng xì xào gọi tên rành rọt: "Hải ơi... Hải... Hải ơi...". Thằng bé ngoái lại nhìn, phòng vắng tanh, khiếp quá vứt bút chạy biến ra đường.
Chỉ đến khi chính Duy bị quật cho một vố chí mạng, anh mới tởn tới già. Hôm ấy đi bán cá về, Duy ngả lưng ngủ trưa một giấc. Mẹ con Loan đã bế nhau qua xóm chơi để nhường chỗ yên tĩnh cho anh ngủ. Đang ngủ say sưa, Duy cảm thấy lồng ngực như bị đá tảng đè nát. Hé mắt ra, bóng mụ đàn bà đen thui mập ú bù xù mà vợ kể thoắt cái phóng phập lên người anh. Hai bàn tay hộ pháp lạnh lẽo của mụ ta siết chặt lấy cổ họng Duy, mụ gằn từng tiếng rợn rợn: "Mày nói mày không sợ tao hả? Mày sợ tao chưa? Sợ tao chưaaaa?". Duy vùng vẫy trong vô vọng, nghẹt thở đến trào đờm mới bứt ra được, hét ré lên. Đàn ông gan góc đến đâu gặp ác linh bóp cổ cũng đành quỳ lạy. Ngay chiều đó, không ai rủ, Duy tự động lẳng lặng cuốn sạch mùng mền, chiếu gối ra cái chòi rách ngoài bãi trồng chè (trà) ở bờ ở bụi, nhất quyết không dám bước một chân vô căn nhà xây kiên cố ấy nữa.
Cuộc đời Loan là những chuỗi ngày vật lộn mưu sinh, dạt trôi đi khắp ngả. Mãi đến năm cô bốn mươi ba tuổi, dạt ra tận ngoài bãi biển Phan Thiết cất cái chòi bán cà phê ván, bóng ma tâm linh vẫn lẩn khuất bám theo. Quán cà phê dựng sát bãi biển, nơi thi thoảng sóng lại đánh giạt vào những cái xác người chết đuối trương phình dập dềnh không người nhận. Sáng hôm đó tầm mười giờ, khách vắng, Loan ngả lưng trên chiếc võng giăng nơi góc quán, úp chiếc nón lá lên mặt thiu thiu ngủ. Bất thình lình, bên tai có tiếng đàn ông cất lên cộc lốc: "Đứng lên trả chỗ tôi coi".
Loan giật mình, dỡ nón lá ra ngó quanh quất tưởng ông lão hàng xóm qua nằm chực. Nhưng bốn bề trống không. Cho là mình nghe lầm, cô lại ngả lưng xuống lần nữa, lần này không đậy nón lá. Vừa hạ lưng, Loan sững sờ khi thấy ngay trước mặt võng là một thằng bé cỡ tám, chín tuổi cởi trần. Khắp người nó ướt sũng, tái nhợt màu xác trôi, nước rỏ tong tong từ trên chỏm đầu xuống ướt sũng mặt đất. Khuôn mặt nó vô hồn, nhợt nhạt, nhưng cái miệng lại toét ra cười vô cùng man rợ. Đứng trước mặt Loan, thằng ma nước giơ hai cẳng tay gầy nhẳng lên, gồng chuột nhún nhảy ưỡn ẹo đắc ý như muốn trêu tức. Loan hét lên một tiếng kinh hãi, nháy mắt bóng thằng bé tan vào bọt nước.
Những sự quấy phá của đám vong linh vất vưởng ấy có hề hấn gì so với cú sốc định mệnh từ chính gia đình. Bốn giờ sáng một ngày nọ, Loan đang nằm ngủ thì nghe ngoài hiên có tiếng chim cú lợn kêu lên ba tiếng "cú... cú... cú" khô khốc rồi vỗ cánh bay vụt đi. Điềm báo tử đã điểm. Ngay ngày hôm sau, người chị ruột gọi điện thoại báo tin nghẹn ngào: mẹ đã qua đời. Suốt những năm tháng cuối đời, bà đau ốm quặt quẹo trong bệnh viện, nhưng trớ trêu thay, giây phút bà nhắm mắt xuôi tay, chín đứa con sống sờ sờ trên đời không một ai kịp về gặp mặt. Bà trút hơi thở cuối cùng trong sự cô độc tột độ. Bao nhiêu năm nay, Loan vì nhớ thương mẹ mà nhắn tin dăm bận, bà cũng bặt vô âm tín, tuyệt tình không xem. Đứa con gái từng bị vu oan năm lên mười giờ đã nửa đời người, lại ôm mặt khóc xót xa cho nghiệp báo cay nghiệt của người mẹ ruột rà.
Phàm ở đời, luật nhân quả gieo xuống chẳng bao giờ chừa một ai. Vong linh người dì vì khát con, ôm lòng tham luyến mà bất chấp nhân luân, nhẫn tâm đoạt mạng giọt máu gia đình để thỏa nguyện cõi âm, ắt phải chịu muôn đời lang thang vất vưởng không được đầu thai siêu thoát. Ác niệm dẫu có che đậy bằng vẻ tươi cười báo mộng, cũng để lại cái tang thương ám ảnh cả một đời người sống.
Còn về phần người mẹ, chỉ vì mù quáng tin vào lời nguyền rủa vô cớ, ôm lòng sân hận, tàn nhẫn hắt hủi đoạn tuyệt đứa con gái mười tuổi dứt ruột đẻ ra. Oán khí của sự nhẫn tâm ấy gieo rắc suốt mấy chục năm trời, cuối cùng lại trổ quả đắng nghét vào chính lúc bà nhắm mắt lìa đời. Trút hơi thở cuối cùng trong cô độc, không một mặt con kề cận, không một tiếng khóc đưa tiễn, đó chính là cái giá tột cùng cho sự tuyệt tình gieo xuống năm xưa. Trần gian hay cõi âm, phàm đã phạm vào quy luật của tình thâm máu mủ, lưới trời tuy thưa nhưng nghiệp báo thì mãi mãi tỏ tường.

Nhận xét
Đăng nhận xét