Vong Dưới Sông Mượn Xác Về Thăm Vợ… Rồi Để Lại Tờ Vé Số Trả Đủ Món Nợ
Dưới những dòng sông sâu cuồn cuộn sóng nước của miền Tây, người xưa vẫn thường rỉ tai nhau về những khúc sông có "dớp". Nơi đó, những kẻ khuất mặt khuất mày trót mang phận chết đuối không thể siêu thoát, cứ vất vưởng bám lấy những nhịp cầu lạnh lẽo giữa màn sương đêm. Chúng oán than, chúng chờ đợi. Chỉ cần một kẻ cùng đường lỡ dại buông mình xuống dòng nước đục khầu, chúng sẽ vươn những bàn tay nhợt nhạt, tróc lở từ dưới lớp bùn sâu để kéo giò thế mạng. Cái chết có thể là sự giải thoát tức tưởi với người sống, nhưng một khi đã gieo mình xuống cửa tử, cái giá phải trả cho cõi âm bao giờ cũng dai dẳng, rùng rợn và đáng sợ hơn mọi món nợ trần gian cộng lại.
Câu chuyện này xảy ra vào khoảng hai chục năm về trước, ngay giữa cái thời điểm mà cơn sốt cá độ bóng đá đang len lỏi vào từng hang cùng ngõ hẻm, cuốn trôi đi không biết bao nhiêu gia sản và sinh mạng. Ông Khảm – vốn là một người đàn ông có gia đình êm ấm với người vợ hiền thảo và năm đứa con ở chốn thành thị – cũng không thể chiến thắng được con quỷ tham lam trong lòng mình. Tưởng chừng chỉ là vài ván cược đỏ đen cho vui, nhưng khi đã lún sâu, ông Khảm hoàn toàn mất trí. Thắng thì chẳng thấy tiền đâu, nhưng khi thua, số nợ của ông đã phình to lên tới hàng tỷ đồng, một con số khổng lồ, đủ để mua mạng cả chục con người vào thời bấy giờ.
Khi đám giang hồ xăm trổ bắt đầu lượn lờ trước ngõ, ném mắm tôm, tạt sơn và buông những lời đe dọa rợn người, ông Khảm biết mình đã bước vào cửa tử. Sợ liên lụy đến vợ con, vào một đêm mưa gió, ông lẳng lặng gói ghém vài bộ quần áo tồi tàn, chỉ kịp để lại một mẩu giấy nhắn nhủ vợ con ở lại giữ gìn sức khỏe rồi biệt xứ trốn nợ. Suốt ba năm trời đằng đẵng sau đó, ông Khảm như bốc hơi khỏi thế gian. Không một cuộc gọi, không một lá thư. Mặc cho giang hồ đến siết nợ, mặc cho vợ con phải trốn chui trốn nhủi nhặt nhạnh từng đồng, ông vẫn bặt vô âm tín, không ai biết ông còn sống hay đã phơi thây nơi xó xỉnh nào.
Gánh nợ khổng lồ từ trên trời ập xuống mái nhà nhỏ. Trong năm người con, anh Giáp là con cả đã có vợ con không thể dứt áo ra đi, còn cô út tên Mận thì hãy còn quá nhỏ dại, ngày ngày phải ở nhà chăm sóc cho người mẹ ốm yếu tiều tụy vì khóc thương chồng. Thế là ba người con trai ở giữa – trong đó có Tính – đành gạt đi nước mắt, gạt đi cả tương lai và tuổi trẻ, chấp nhận làm giấy tờ xuất khẩu lao động sang tận Đài Loan và Nhật Bản. Những chàng trai mười tám, đôi mươi phải cắn răng cày cuốc nơi xứ người lạnh lẽo, nhịn ăn nhịn mặc, chắt bóp từng đồng tiền đẫm mồ hôi và máu gửi về quê với hy vọng giữ lại cái mạng cho cha, và giữ lại chút bình yên cho mẹ ở nhà.
Tưởng chừng cuộc sống tăm tối ấy cứ thế lầm lũi trôi đi, thì đùng một cái, vào một đêm khuya tĩnh mịch, chuông điện thoại trong nhà bỗng reo vang từng hồi xé toạc không gian. Ở đầu dây bên kia, một giọng người lạ hoắc dưới tận miền Tây báo một hung tin sét đánh: Ông Khảm vừa để lại di thư, gieo mình xuống dòng sông sâu tự tử.
Nghe hung tin, bà vợ ngất lịm ngay tại chỗ, tay chân lạnh toát. Anh Giáp là người duy nhất giữ được bình tĩnh trong cái đêm hỗn loạn ấy, anh vội vã xác nhận thông tin rồi tức tốc nổ máy chạy xuyên đêm xuống tận Cần Thơ.
Cây cầu nơi ông Khảm tự vẫn vắt ngang qua một khúc sông vắng lặng, nước chảy xiết và đen ngòm. Nhưng may mắn thay cho cái mạng già của ông Khảm, người miền Tây bao đời nay vẫn nổi tiếng với cái tính bao đồng và thương người. Khi vô tình đi ngang qua và phát hiện đôi dép mòn vẹt cùng lá thư tuyệt mệnh kẹp dưới hòn đá trên thành cầu, họ lập tức tri hô. Tiếng gọi nhau ới ới xé toạc màn đêm. Người rọi đèn pin sáng rực cả một khúc sông, người thoăn thoắt chèo ghe đi dọc theo con nước để mò mẫm. Hơn hai chục phút căng thẳng trôi qua dưới lòng sông đen đặc, cuối cùng, người ta cũng vớt được thân xác lạnh ngắt của ông Khảm lên bờ. Sau những nhịp ép tim điên cuồng, ông thoi thóp nôn ra từng bãi nước sông đục ngầu và được đưa thẳng vào phòng cấp cứu trong tình trạng thập tử nhất sinh.
Đám chủ nợ khi hay tin con nợ túng quẫn đến mức phải gieo mình xuống đáy sông thì cũng bắt đầu chùn tay. Thêm vào đó, thấy ba đứa con trai của ông đang nai lưng làm lụng gửi tiền về trả đều đặn hàng tháng, chúng không cạn tàu ráo máng nữa, đồng ý giãn nợ để gia đình tự thu xếp.
Được cứu sống trở về, ông Khảm như biến thành một người hoàn toàn khác. Từ một người đàn ông ồn ào, hay nói xằng nói bậy, ông bỗng trở nên lầm lì, câm lặng như một cái bóng mờ. Cả ngày ông chỉ lủi thủi ra vào, rụt rè tránh né mọi ánh mắt của vợ con. Cả nhà ngỡ rằng ông đang gặm nhấm nỗi mặc cảm tội lỗi tột cùng khi đẩy gia đình vào cảnh tan đàn xẻ nghé.
Vài tháng sau cái đêm định mệnh ấy, hợp đồng lao động ba năm của Tính và một người em kết thúc, họ xách hành lý trở về nước. Ngày đoàn viên, thay vì những giọt nước mắt mừng rỡ, không khí trong nhà lại nặng nề, ngột ngạt đến nghẹt thở. Cứ nhìn thấy cha, bao nhiêu uất ức, đắng cay kìm nén bấy lâu nơi đất khách quê người bỗng chốc trào dâng. Tại sao vì sự tham lam của cha mà họ phải đánh đổi cả thanh xuân? Tuổi trẻ, mồ hôi và những đêm đông rét mướt khóc thầm nơi xứ người, ai sẽ là người đền đáp?
Để giải tỏa những khúc mắc chất chứa, gia đình bày một bữa tiệc nhậu với đông đủ các thành viên, hy vọng mượn chút men cay để nói hết những ẩn ức trong lòng. Nhưng khi rượu đã ngà ngà say, ranh giới của sự kiềm chế bị phá vỡ. Những lời trách móc, khóc lóc, chì chiết thi nhau giáng xuống đầu người cha già. Cả bàn nhậu chùng xuống, ai nấy đều đỏ hoe con mắt.
Ngay giữa lúc không khí uất nghẹn đó, ông Khảm, nãy giờ vẫn cúi gằm mặt, đột nhiên ngước lên. Đôi mắt ông đỏ ngầu, nổi đầy vằn máu, ông gằn từng chữ khàn đặc:
– "Tụi bây... tụi bây cho tao một năm đi! Một năm nữa thôi, tao sẽ làm lại từ đầu."
Mấy anh em nghe xong thì ngơ ngác, rồi lập tức nhao nhao phẫn nộ:
– "Ba tính làm gì? Ba lấy cái gì mà làm lại từ đầu? Ba hứa hẹn cái gì mà bắt tụi con đợi một năm?"
Ông Khảm ấp úng, hai bàn tay đan vào nhau run rẩy:
– "Hôm... hôm tao chết hụt dưới sông, tao lỡ hứa giúp người ta một chuyện. Chậm nhất một năm. Giúp xong, người ta sẽ độ cho tao phất lên."
Cả nhà nghe thế lại càng sôi máu, tưởng rằng trong thời gian trốn nợ, ông lại hứa hẹn chuyện bao đồng, cờ bạc với kẻ nào đó nên mới bị dồn đến bước đường cùng. Khuyên can không được, cãi vã bùng nổ. Mẹ Tính giận quá, ôm mặt khóc rồi bỏ chạy vào buồng. Anh Giáp và người em cũng tức tối ném ly rượu, vùng vằng bỏ về. Trên bàn nhậu lổng chổng vỏ chai, chỉ còn lại Tính, cô út Mận và người cha già đang run lẩy bẩy.
Thấy tình hình quá căng thẳng, Mận mới kéo ghế ngồi sát lại, giọng cô dịu đi, ngọt nhạt dỗ dành:
– "Ba ơi, ba hứa cái gì, với ai ở dưới sông? Ba cứ nói hết ra đi, tụi con nghe đây."
Dưới ánh đèn huỳnh quang leo lét, khuôn mặt ông Khảm xám ngoét lại. Bằng sự mềm mỏng của đứa con gái út, cuối cùng ông cũng chịu mở miệng, phơi bày cái sự thật kinh hoàng nơi đáy sông đêm ấy.
Ông kể, cái đêm đứng trên thành cầu Cần Thơ vắng ngắt, gió rít từng cơn lạnh buốt. Sau khi xếp ngay ngắn lá thư tuyệt mệnh, ông nhắm mắt, cắn răng buông mình xuống dòng nước xiết vì sợ nếu chần chừ thêm vài giây, cái dũng khí tìm chết sẽ tan biến mất. Nhưng ngay khi thân thể vừa đập mạnh xuống mặt sông lạnh buốt, bọt nước vỡ òa, nước tràn ộc vào mũi, vào họng, bản năng sinh tồn trỗi dậy mãnh liệt như một ngọn lửa. Ông hối hận. Ông không muốn chết nữa. Ông quẫy đạp, cố sức bơi ngoi lên mặt nước.
Nhưng, ngay khi đỉnh đầu chưa kịp nhô lên khỏi mặt sông đen ngòm, từ dưới lớp bùn sâu hoắm, một bàn tay nhớp nháp, lạnh ngắt và cứng đơ như khúc gỗ mục tóm chặt lấy cổ chân ông.
Đó tuyệt đối không phải là vướng vào rễ cây hay lưới cá. Đó rõ ràng là một bàn tay với năm ngón sắc lạnh, móng tay cắm phập vào da thịt ông, dùng một sức mạnh kinh người kéo giật ông xuống đáy sâu. Ông chới với, mắt trợn ngược trong bóng tối đen đặc. Chưa kịp giãy giụa thì một bàn tay thứ hai lại vươn lên, chộp lấy chân còn lại. Hai chân bị ghì chặt cứng, kéo căng ra. Ông Khảm chìm nghỉm, ngạt thở, phổi như muốn nổ tung vì thiếu dưỡng khí. Trong giây phút cận kề cái chết, màng nhĩ lùng bùng tiếng nước, ông cảm nhận rõ rệt có một "người" đang áp sát bên cạnh mình dưới làn nước đục. Một cái bóng lạnh lẽo, tà dị, tỏa ra thứ sát khí rợn gáy mà ông biết chắc chắn đó không phải là người đang cố gắng bơi xuống để cứu mình.
Khi được kéo lên bờ để sơ cứu, trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh, ranh giới sống chết mờ nhạt, ông Khảm hé đôi mắt trĩu nặng ra. Đập vào mắt ông không phải là gương mặt lo âu của người ân nhân đang ép tim ngoài lồng ngực. Mà đè sầm sập lên ngực ông lúc đó, là một gã đàn ông xa lạ. Mặt gã sát rạt mặt ông, cách nhau chưa tới một phân. Gương mặt gã trắng ợt, lớp da nhăn nheo, sưng phù, bợt bạt và lở loét tứa nước vàng vì ngâm dưới bùn quá lâu ngày. Ông khiếp đảm, đồng tử co rút lại, ông nhìn xuyên qua cái đầu trắng toát, đầy mùi tử khí thối rữa ấy, mới thấy thấp thoáng bờ vai của người dân đang mồ hôi nhễ nhại hô hấp nhân tạo cho mình. Chịu không thấu cảnh tượng tà dị đó, ông lịm đi.
Nhưng sự bám riết chưa dừng lại ở đó. Trong những ngày nằm viện cấp cứu, cái vong chết đuối kia đã lén lút rời khỏi lòng sông, đi theo ông vào tận phòng bệnh. Trong một giấc mơ màng sương lạnh, ông thấy gã đàn ông đó hiện nguyên hình. Hắn đứng sừng sững cạnh giường bệnh, những giọt nước đục ngầu rỏ tong tong xuống sàn nhà. Hắn cúi xuống, thều thào sát lỗ tai ông:
– "Tao tính kéo giò cho mày chết thế mạng để tao được đi đầu thai. Nhưng tao thấy mày tội nghiệp... nên tao tha. Đổi lại, mày phải giúp tao về nhìn mặt vợ tao lần cuối."
Phần vía của ông Khảm trong mơ run rẩy, lập cập đáp lại:
– "Tôi hứa giúp... nhưng tôi đâu biết vợ anh là ai, ở xó xỉnh nào mà tìm?"
Cái bóng sũng nước lầm bầm, âm thanh như phát ra từ một cái lu vỡ:
– "Chỉ cần mày hứa! Mày chịu giúp, tao sẽ theo phù hộ độ trì cho mày. Không giúp được chuyện này, tao sẽ độ cho chuyện khác."
Trong cơn giành giật mạng sống mỏng manh, ông Khảm gật đầu lia lịa. Vừa đồng ý xong, cái bóng hôi hám tan biến, ông Khảm choàng tỉnh, mồ hôi vã ra như tắm, thấy anh Giáp đang đứng cạnh giường.
Kể đến đây, Tính và Mận nghe mà lạnh toát sống lưng, lông mày giật giật. Tính vẫn cố níu giữ chút lý trí, ngập ngừng:
– "Ba... ba nằm viện mê sảng, ngộp nước sinh ra ảo giác chứ làm gì có ma quỷ."
Ông Khảm trừng mắt, đôi mắt lại hằn lên những tia máu đỏ rực, giọng run lên bần bật:
– "Thiệt đó! Nó theo tao từ bận đó tới tận bây giờ. Tao khẳng định với tụi bây, nó đang ở ngay trong cái nhà này!"
Ông kể tiếp, từ ngày được xuất viện về nhà, dù gia đình có lập bàn thờ Phật Quan Âm khói nhang nghi ngút, cái vong đó vẫn lẩn khuất trong những góc tối. Cứ dăm bữa nửa tháng, nó lại báo mộng hiện ra đòi ăn món này, món nọ. Ông run rẩy đi mua đồ cúng, hỏi nó muốn cúng mâm sao, nó bảo không cần bày biện, cứ mua về để ông ăn là được.
Điều rùng rợn và tà dị nhất là, sau khi ngồi vào mâm và ăn sạch sành sanh những món đó, ông Khảm không hề lưu lại một chút ký ức nào. Ông không nhớ mình đã cầm đũa, không nhớ mình đã nhai nuốt ra sao, bụng cũng không hề có cảm giác no căng hệt như chưa từng nuốt thứ gì vào bụng. Cái vong chết trôi ấy đã nhập thẳng vào xác ông, mượn miệng ông để hưởng lộc trần. Không chỉ vậy, những đêm khuya thanh vắng, thi thoảng ông lại thấy nó đứng sừng sững dưới chân giường. Khi thì mang nhân dạng người thường đứng lặng lẽ, lúc lại hiện nguyên hình cái xác chết trôi, da thịt lầy nhầy, bong tróc từng mảng, nước sông đen ngòm chảy ròng ròng xuống mặt sàn nhà, tỏa ra thứ mùi bùn thối rùng rợn.
Hai anh em nghe đến đây thì sợ quéo người, da gà nổi rần rần. Nhưng dù sợ hãi tột độ, cả nhà vẫn họp bàn và quyết định nương theo lời dặn của cha, giấu nhẹm chuyện này không cho mẹ biết vì sợ bà yếu bóng vía sẽ sinh bệnh.
Cứ thế, gia đình sống trong sự nơm nớp lo sợ cho đến hơn một tháng sau. Giữa lúc nửa đêm, ông Khảm bất ngờ lên cơn co giật dữ dội, người nóng hầm hập như hòn than, mắt trợn trắng dã. Cả nhà xúm lại đưa ông vào viện cấp cứu. Vừa truyền nước xong, ông tỉnh lại, hoảng loạn vươn tay níu chặt lấy áo anh Giáp:
– "Nó... nó vừa bóp cổ tao! Nó siết cổ tao, bắt tao dắt về Cần Thơ, lại cái chỗ cây cầu đó, nó bảo nhà nó ở ngay gần đó. Tao cãi lại là tao không biết đường lối ra sao, thế là nó bóp cổ tao muốn tắt thở!"
Sự việc đã đi quá giới hạn, không thể chần chừ thêm được nữa. Mấy anh em thống nhất giả vờ rủ ba đi du lịch Cần Thơ để đổi gió, kiếm quán vịt nấu chao ăn cho khuây khỏa. Mẹ Tính lấy cớ làm biếng đi xa nên quyết định ở nhà. Cả đám lập tức thuê xe, chở ông Khảm trực chỉ hướng Tây Đô thẳng tiến.
Xuống đến Cần Thơ, suốt cả buổi trưa và chiều ở khách sạn, ông Khảm vẫn cư xử bình thường, không có bất kỳ dấu hiệu động tĩnh gì lạ thường. Mấy anh em lén lút quan sát từng cử chỉ của cha nhưng đành ngơ ngác nhìn nhau.
Nhưng, khi màn đêm buông xuống, lúc cả nhà đang ngồi ăn nhậu tại một quán vịt ven đường, sự dị thường rùng rợn bắt đầu xuất hiện. Đang cắn miếng thịt, uống lon bia bình thường, ông Khảm đột nhiên đập mạnh tay xuống bàn cái "rầm". Ánh mắt ông dại đi, giọng nói biến đổi hoàn toàn, khàn đục và nhừa nhựa. Ông hất mặt, gọi người phục vụ mang ra một chai rượu mạnh đắt tiền – thứ đồ uống mà cả đời ông cực kỳ căm ghét và không bao giờ cho vào miệng.
Ông vặn nắp, nốc rượu ừng ực không cần ly, uống như một kẻ nát rượu sành sỏi bị chết khát cả thế kỷ. Kỳ lạ và rợn người thay, mỗi lần rót rượu ra ly để cụng, ông đều cung kính chắp cả hai tay lại, nâng chén ngang mày mời mấy đứa con hệt như một người dưng đang thành tâm tạ lễ ân nhân. Mấy anh em nhìn nhau, sống lưng lạnh toát mồ hôi hột. Bọn họ tự hiểu với nhau, kẻ đang ngồi trước mặt, nhai nuốt nhồm nhoàm kia, đã không còn là cha mình nữa. Vong hồn đáy sông đã chính thức mượn xác.
Ăn uống no say, ông "Khảm" loạng choạng leo lên xe, ra lệnh cho anh Giáp phải lái xe chạy vòng quanh thành phố. Chạy được chừng mười lăm phút qua vô số ngã ba ngã tư, hắn cất giọng khàn khàn, sặc mùi rượu:
– "Để tao chỉ đường."
Hắn tự mình chỉ rẽ trái, rẽ phải, đi luồn lách thuần thục qua những con đường vắng ngắt của thành phố Cần Thơ về đêm. Khi chiếc xe chạy đến đoạn đối diện sân vận động, hắn đột ngột quát lớn:
– "Dừng lại! Dừng ngay!"
Chiếc xe thắng cái "két". Ông Khảm cứ thế ngồi bất động trên ghế phụ, đôi mắt mở trừng trừng, không chớp lấy một cái. Nước mắt ông bỗng trào ra giàn giụa, ông nhìn chằm chằm vào một căn nhà cấp bốn bên kia đường rồi khóc nấc lên từng hồi thảm thiết, nghẹn ngào như đứt từng khúc ruột. Mọi người nín thở nhìn theo ánh mắt vô hồn ấy, và rồi họ phát hiện ra một sự thật kinh hoàng.
Ngay giữa gian nhà ấy đang nghi ngút khói nhang. Một chiếc bàn thờ vong mới tinh vừa được lập, hoa quả còn tươi rói. Và trên đỉnh bàn thờ, là bức di ảnh của một người phụ nữ trạc tuổi trung niên vừa mới qua đời.
Hóa ra là vậy. Linh hồn chết đuối kia dù ở cõi âm nhưng đã biết trước vợ mình dương thọ đã tận, chuẩn bị nhắm mắt xuôi tay. Vì vậy, hắn mới cố tình tha mạng cho ông Khảm, lập ra bản giao kèo một năm, mượn đường cõi dương, mượn xác ông Khảm để được về đứng trước cửa nhà, nhìn mặt vợ mình lần cuối trước khi người vợ cũng bước qua cửa tử, đoạn tình âm dương vĩnh viễn cách biệt. Cảnh tượng người đàn ông xám ngoét ngồi khóc tức tưởi trước bàn thờ vong khiến mấy anh em Tính không ai bảo ai, đều rớt nước mắt vì xót xa.
Khóc lóc thỏa thuê, trên đường quay về khách sạn, vong hồn mượn xác ông Khảm bất ngờ mở cửa, bước loạng choạng xuống xe. Hắn đi thẳng tới chỗ một bà lão đang run rẩy đứng bán vé số dạo ven đường. Hắn lôi sạch sành sanh từng tờ tiền chẵn, tiền lẻ, móc hết mọi ngóc ngách từ túi quần, túi áo, vét nhẵn không chừa một đồng nào, mua bằng sạch xấp vé số dày cộp của bà lão. Xong xuôi, hắn leo lên xe, ngả lưng ghế rồi lăn ra ngủ li bì, ngáy vang như sấm.
Sáng hôm sau tỉnh dậy trong phòng khách sạn, ông Khảm ngơ ngác nhìn quanh. Ký ức của ông bị cắt đứt hoàn toàn từ cái lúc ngồi gắp miếng vịt ở quán nhậu. Ông không hề nhớ việc mình đã đòi uống thứ rượu mạnh đắng ngắt, không nhớ việc chỉ đường rành rọt, càng không nhớ việc mình đã khóc lóc thảm thiết trước bàn thờ vong hay vung tay mua cả xấp vé số.
Đến chiều muộn, khi cả nhà đã chạy xe về đến Sài Gòn an toàn, Tính mới tò mò mang cọc vé số dày cộp ra dò thử trên đài. Chuyện tâm linh quả không đùa được, nó vượt qua mọi sự tính toán của con người. Trong xấp vé hầm bà lằng ấy, có đến mười mấy tờ trúng giải đầu, năm tờ trúng giải ba. Và rợn người thay, cầm trên tay một tờ vé số nhàu nhĩ cuối cùng, Tính đứng hình khi thấy sáu con số trùng khớp hoàn toàn với giải độc đắc.
Cả nhà vỡ òa. Mấy ngày sau, khi hoàn tất thủ tục đi lãnh thưởng, tính toán chi ly, trừ đi các khoản tiền đóng thuế nhà nước, số tiền còn lại mang về... kỳ diệu thay, nó vừa khít từng đồng, từng cắc với số tiền hàng tỷ đồng mà ông Khảm còn mang nợ đám giang hồ. Không dư một cắc để họ ăn xài, cũng không thiếu một xu để phải mượn thêm người ngoài. Nó vừa đủ để ông Khảm thanh toán dứt điểm ân oán giang hồ mà không cần phải đụng đến dù chỉ một đồng tiền mồ hôi nước mắt của người con đang nai lưng lao động bên Nhật.
Bản giao kèo một năm dưới đáy sông sâu đã khép lại. Lời hứa của người cõi âm, dù rùng rợn và tà dị, đã được thực hiện sòng phẳng đến mức kinh ngạc.
Cả gia đình từ chỗ bán tín bán nghi, sợ hãi, nay đã hoàn toàn tin phục rạp mình trước sự linh thiêng của vong hồn cõi âm. Mẹ Tính khi nghe kể lại toàn bộ câu chuyện thì rùng mình, chắp tay lạy trời lạy phật. Ngay hôm sau, bà quyết định trích ra một khoản tiền nhỏ, cùng các con lặn lội mang xuống tận ngôi nhà ở Cần Thơ, đặt lên bàn thờ của người vợ nọ. Họ mượn cớ ngày xưa có nợ người quá cố một chút ân tình, nay đem phúng điếu để tạ ơn cứu mạng.
Lưới trời lồng lộng, thưa nhưng khó lọt, quy luật nhân quả tuần hoàn nào có bỏ sót một ai. Kẻ sa chân vào hố sâu tham lam đỏ đen, u mê trong những trò cờ bạc, rốt cuộc cũng tự dồn bản thân và gia đình đến bước đường cùng. Mang nợ người sống để rồi bị truy cùng diệt tận chưa đủ, lại rước thêm thứ nợ rùng rợn của người cõi âm. Ông Khảm nợ tiền giang hồ, nợ cả mạng sống dưới đáy sông, âu cũng là cái duyên kỳ ngộ, cái nghiệp quấn thân với một vong hồn nặng tình thế gian.
Lời hứa thốt ra dẫu trong cơn hoảng loạn cận kề cái chết, một khi đã vay mượn của cõi âm thì ắt phải trả sòng phẳng, không thể trốn tránh bằng cái chết. Trần gian rộng lớn, mấy ai cùng đường tuyệt lộ lại may mắn được cõi âm nương tay như vậy? Đã trót vây vào sự tham lam, báng bổ mạng sống của chính mình, nếu không biết mượn bài học máu thịt này để quay đầu sám hối, tu tâm dưỡng tính, sớm muộn gì cũng có ngày vong mạng vĩnh viễn dưới đáy bùn sâu lạnh lẽo mà không một lời oán thán.

Nhận xét
Đăng nhận xét