OAN HỒN DƯỚI GỐC XÀ CỪ… ĐỨA TRẺ VẠCH MẶT GÃ CHỒNG SÁT NHÂN | Kỳ 37
XÁC NGƯỜI DƯỚI GỐC XÀ CỪ… OAN HỒN THEO ĐỨA TRẺ VỀ XÓM TRỌ
Người ở xóm Bãi Dâu vẫn truyền nhau rằng, cây càng sống lâu thì rễ càng nhớ nhiều chuyện. Có những bộ rễ chỉ hút nước dưới lòng đất. Nhưng cũng có những bộ rễ ôm lấy bí mật của người chết, để rồi mỗi đêm trở gió lại rỉ ra một thứ mùi ngai ngái như lời kêu oan. Mùa hạ năm ấy, một đứa trẻ đã vô tình bước qua lằn ranh không ai nhìn thấy, mang theo về nhà tiếng khóc của một người đàn bà đã mất cả tên lẫn mặt.
Dương gian có lối, âm phủ có đường. Người đi trên đất, ma đi dưới âm. Nhưng khi màn đêm buông xuống, ranh giới ấy bỗng chốc nhạt nhòa, dẫn lối cho những bước chân lạc vào nơi giao thoa giữa hai bờ sinh tử: Âm Dương Phủ. Hãy giữ cho tim mình thật vững, bởi câu chuyện quỷ dị đêm nay bắt đầu ngay sau đây.
Chiếc xe ba gác chở vài món đồ cũ của mẹ con chị Thu Hà lặng lẽ rẽ vào con ngõ sâu hun hút ở rìa thị trấn An Phúc. Ở tuổi ba mươi hai, sau một cuộc hôn nhân tan vỡ, chị đưa con trai rời quê, mong làm lại từ đầu bằng nghề may gia công. Căn phòng thuê nằm lọt thỏm trong dãy nhà cấp bốn của xóm trọ Bãi Dâu, chưa đầy mười lăm mét vuông, mái tôn thấp, mùa hè hầm hập như một cái lò. Bé Nam vừa tròn bảy tuổi, vẫn còn ngơ ngác khi phải rời căn nhà quen thuộc để đến sống ở một nơi hoàn toàn xa lạ.
Sát sau dãy trọ là một vườn xà cừ bỏ hoang. Người già trong xóm bảo trước kia đó là nghĩa địa của một làng cũ, về sau người ta san bằng để làm khu vui chơi nhưng công trình dở dang rồi bỏ mặc. Những ghế đá nứt nẻ nằm nghiêng dưới rêu, cỏ lau mọc quá đầu người, còn rễ xà cừ trồi lên mặt đất như những đốt ngón tay khổng lồ. Ban ngày nơi ấy đã vắng. Khi chiều xuống, chim chóc cũng tránh đậu, chỉ còn tiếng lá khô cọ vào nhau nghe như ai đang nghiến răng trong bóng tối.
Những ngày đầu chuyển đến xóm trọ Bãi Dâu, cuộc sống của mẹ con chị Thu Hà xoay vần quanh tiếng máy may lạch cạch và những chồng vải nỉ nồng mùi hồ mới. Nam con nhỏ lại đang dịp nghỉ hè nên đã nhanh chóng kết thân với đám trẻ con trong ngõ, trong đó có thằng Bảo, con trai của một người đàn ông sống ở căn nhà ba tầng khang trang nhất khu. Người đàn ông ấy tên Khải, 38 tuổi, hiện đang làm trưởng phòng kế toán cho một công ty vật liệu xây dựng ở thị trấn. Sở dĩ chị có ấn tượng với người đàn ông này cũng là do anh ta có phần khá nổi bật trong khu, khác hẳn với vẻ lam lũ, thô kệch của những người lao động tay chân trong xóm trọ Bãi Dâu. Khải lúc nào cũng mặc chiếc áo sơ mi được ủi phẳng phiu cùng với cặp kính cận tri thức và nhã nhặn.
Một buổi chiều muộn, khi chị Thu Hà đang còng lưng bên bàn máy may thì thấy Khải tay dắt theo bé Nam, tay kia cầm một túi nhãn lồng tươi rói. Thấy chị, hắn mỉm cười lịch sự:
- Chào cô Hà. Tôi mới đi gọi thằng Bảo, sẵn tiện đưa cháu Nam về luôn kẻo muộn. Tiện đường tôi mua ít hoa quả biếu hai mẹ con ăn lấy thảo.
Hẳn là hai đứa nhỏ lại kéo nhau đi đâu đó chơi rồi được Khải dắt về. Chị Thu Hà lúng túng đứng dậy, vuốt lại vạt áo lấm lem bụi vải, khẽ cúi đầu:
- Ôi anh chu đáo quá! Cháu Nam mới đến còn nghịch ngợm, có làm phiền lòng anh và cháu Bảo không ạ?
Khải xua tay, giọng ấm áp và từ tốn:
- Cô Hà đừng khách sáo. Trẻ con trong xóm có thêm bạn càng vui. Có thằng Nam chơi cùng, tôi cũng yên tâm làm việc. Cô cứ để cháu chơi với tụi nhỏ, ở đây toàn người chất phác cả thôi.
Nhìn dáng người cao ráo, tác phong chỉn chu của Khải khuất dần sau cánh cổng sắt khang trang, trong lòng chị Thu Hà không khỏi dấy lên sự ngưỡng mộ, lại pha chút chạnh lòng khi nghĩ đến người chồng cũ nát rượu, vũ phu của mình. Nhưng kể ra cũng lạ, từ khi chuyển vào đây sống đến giờ, chị chưa có dịp được nói chuyện với chị nhà anh Khải vì chẳng bao giờ thấy chị ấy ra khỏi cửa.
Trong một buổi chiều muộn, khi chị Thu Hà sang gửi tiền phòng, chị tò mò hỏi thăm bà Mùi về vợ của Khải. bà Mùi không nhịn được mà tặc lưỡi thở dài:
- Cô Hà mới dọn đến chắc chưa biết. Nhìn thằng Khải thế chứ số nó lận đận đường vợ con lắm. Cái nhà ấy bề ngoài thì êm ấm chứ ở bên trong nát bét từ lâu rồi. Vợ nó bỏ đi cách đây chừng một tháng trước khi cô dọn đến ở không lâu. Đợt ấy đêm nào cũng nghe tiếng hai vợ chồng nó cãi nhau um sùm cả lên. Mà cô vợ thằng Khải tính tình cũng lạ lắm, lầm lì chẳng bao giờ mở miệng chào hỏi ai trong xóm. Nghe đâu cô ta là trẻ mồ côi, cưới được thằng Khải như chuột chui chạn gạo, thế mà không biết đường ăn ở. Có hôm hai đứa nó lại lục đục cãi nhau to rồi cô ta ôm quần áo bỏ đi ngay trong đêm. Thằng Khải nó đi tìm vợ suốt mà tìm không ra, nó còn lên tận đồn công an làm đơn trình báo vợ mất tích, khóc lóc thảm thiết lắm, ai nhìn vào cũng thương. Rồi chừng một tuần sau, người ta thấy nó đón được vợ về, vui vẻ hớn hở ra mặt. Nhưng ai ngờ đâu, ba ngày sau chúng nó lại ầm ĩ cãi nhau. Về sau thằng Khải kể là vợ nó lại ôm hết tiền vàng, quần áo bỏ đi tiếp rồi. Lần này thằng Khải bảo nó bất lực, không thèm đi tìm nữa, mặc kệ cô ta muốn đi đâu thì đi. Nên từ đó đến nay căn nhà chỉ còn có hai bố con lầm lũi ra vào thôi.
Đang nói chuyện với bà Mùi thì bỗng chị Thu Hà nghe thấy tiếng khóc thút thít của đám trẻ con ngoài ngõ. Chị lật đật chào bà Mùi, vội vã xỏ đôi dép tổ ong cũ rồi bước nhanh ra phía cửa xem có phải con mình khóc không. Trời chiều ở rìa thị trấn An Phúc sập tối rất nhanh. Tiếng khóc thút thít mỗi lúc một rõ hơn, chen lẫn vào đó là tiếng dỗ dành lẫn nhau của mấy đứa nhỏ khác trong xóm. Bước ra đến khoảng sân chơi tập thể, chị Thu Hà thấy năm sáu đứa trẻ đang túm tụm lại ở dưới bóng cây trứng cá. Ở giữa, bé Nam con chị đang ngồi bệt dưới nền xi măng, hai tay ôm chặt lấy đầu gối, bờ vai nhỏ bé run lên bần bật, nước mắt nước mũi giàn giụa đầy mặt.
Chị Thu Hà xót con, vội chạy đến quỳ thụp xuống ôm xốc đứa nhỏ vào lòng rồi lo lắng hỏi:
- Nam! Có chuyện gì mà khóc thế hả con? Con ngã té đau chỗ nào?
Thằng cu lớn tuổi nhất trong đám là thằng Tấn, con nhà bà bán quán nước, nó run rẩy chỉ tay về phía bức tường gạch đổ nát ngăn cách xóm trọ Bãi Dâu với vườn xà cừ bỏ hoang, giọng nói vẫn chưa hết run:
- Không có ai đánh em Nam đâu cô Hà ơi! Tụi con đang chơi trốn tìm ở bên trong vườn xà cừ, đang chơi thì ngửi thấy mùi gì kinh lắm, giống như là mùi chuột chết nhưng thối hơn nhiều. Tụi con sợ quá định chạy về thì em Nam cứ đứng đực ra, trợn mắt nhìn lên cành cây rồi khóc ré lên bỏ chạy, nên mới bị ngã đó cô!
Chị Thu Hà nhíu mày, lấy tà áo lau sạch nước mắt trên mặt con, khẽ trách:
- Đã bảo bao nhiêu lần rồi, vườn xà cừ đó hoang vắng, ban đêm không có đèn đường, xóm mình lại gần bãi trung chuyển rác, gió thổi mùi thối bay vào thôi chứ có cái gì đâu mà nhát gan thế hả? Lần sau không được sang đó chơi lúc chiều muộn nghe chưa!
Mấy đứa trẻ nghe thấy người lớn mắng thì im bặt, lấm lét nhìn nhau rồi đứa nào đứa nấy tự động giải tán.
Đêm đó, Nam không chịu ăn uống gì, nó nằm cuộn tròn, hai tay nắm chặt lấy vạt áo mẹ không buông. Chị Thu Hà nghĩ con mình mới chuyển chỗ ở, lại ra chỗ hoang vắng chơi nên bị yếu bóng vía thôi. Chị khẽ thở dài rồi ngồi xuống cạnh bàn máy may tiếp tục làm hàng gia công cho kịp giao vào sáng sớm ngày mai.
Tiếng máy may lạch cạch vang lên đều đặn trong đêm tĩnh mịch. Đồng hồ treo tường cũ kỹ điểm 11 giờ đêm. Đúng lúc này, một luồng gió lạnh ngắt từ đâu thốc mạnh qua khe hở của cánh cửa sổ thổi lùa vào phòng làm tấm rèm vải màu bay phần phật. Chị Thu Hà bị gió lạnh làm cho rùng mình nổi hết da gà. Đi kèm với luồng gió lạnh ấy là một mùi hương ngai ngái, nồng nặc và tanh tưởi rất khó chịu. Chị Thu Hà phải bịt mũi, chỉ lẩm bẩm:
- Quá lạ, hôm nay nhà ai đổ cái gì ra ngõ mà thối kinh khủng thế này nhỉ? Mùi này làm sao mà ngủ nổi đây!
Chị đứng dậy định bụng ra đóng chặt cửa sổ lại thì bất chợt bước chân chị khựng lại giữa chừng. Từ phía chiếc giường tre nhỏ ở góc phòng, bé Nam bỗng nhiên ngồi bật dậy, thẳng đơ như khúc gỗ. Đôi mắt thằng bé mở to trừng trừng nhưng trong mắt lại dại đi, không chớp mắt. Ánh đèn tuýp trắng ở trên trần hắt xuống làm gương mặt của đứa trẻ trở nên nhợt nhạt, xám xịt. Ánh mắt thằng bé vô hồn nhìn thẳng về phía cửa sổ bên ngoài trời tối đen như mực.
Chị Thu Hà hoảng hồn vội lao đến bên giường ôm lấy vai con mình, lay mạnh gọi nó:
- Nam! Nam! Nam ơi con làm sao thế này? Tỉnh lại đi con, mẹ đây, mẹ đây mà Nam ơi!
Nhưng Nam không hề có phản ứng trước tiếng gọi của chị. Thằng bé bắt đầu mấp máy môi, giọng nói thốt ra từ cổ họng không còn là giọng nói trong trẻo ngọng nghịu thường ngày của một đứa trẻ nữa, mà là một thứ thanh âm khàn đặc, nó nghiến răng nói:
- Lạnh... lạnh quá... Dưới đất lạnh lắm... Sao lại giấu tôi ở đây... Cho tôi đi...
Chị Thu Hà sợ đến mức rụng rời chân tay, tim đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Chị dùng hết sức ôm chặt lấy con, dùng lòng bàn tay sờ lên trán thằng bé thì giật mình phát hiện trán nó nóng như hòn than. Nhớ lại những lời nó vừa nói, chị liền nghĩ thằng Nam bị sốt cao đến mức mê sảng mất rồi. Toàn thân đứa trẻ co giật bần bật, hai hàm răng đánh vào nhau, bọt mép trào ra ở khóe miệng. Chị Thu Hà bật khóc nức nở, vội vàng lấy chiếc khăn mặt nhúng nước đắp lên trán cho con rồi cuống cuồng tìm thuốc hạ sốt cho con uống.
Mãi đến gần 1 giờ sáng, cơn co giật của Nam mới dịu bớt. Thằng bé lịm đi vào giấc ngủ nhưng đôi lông mày vẫn nhíu chặt, hai tay cào cấu xuống mặt chiếu trúc sột soạt, miệng liên tục lẩm nhẩm những từ vô nghĩa:
- Máu... nhiều máu lắm...
Chị Thu Hà thức trắng đêm đó, không dám chợp mắt lấy một giây. Chị ngồi bó gối bên cạnh con, ánh mắt hết nhìn đứa con tội nghiệp lại nhìn ra phía cửa sổ đóng kín. Bản năng của một người mẹ mách bảo chị rằng chuyện xảy ra với con trai chị chiều nay ở vườn xà cừ rất bất thường. Có một thứ gì đó đáng sợ đang lảng vảng ở vườn xà cừ bỏ hoang kia.
Sáng hôm sau, Nam đã dứt cơn sốt nhưng người ngợm mệt lả, nằm bẹp một chỗ, da mặt xanh xao như tàu lá chuối. Chị Thu Hà đành nghỉ một hôm để chăm sóc con. Tầm 9 giờ sáng thì thấy Khải đến. Hôm nay là ngày cuối tuần, hắn không mặc sơ mi phẳng phiu như mọi khi mà mặc một bộ quần áo thể thao giản dị, tay xách một chiếc túi ni lông màu đen khá nặng, dáng vẻ có chút vội vã. Nhìn thấy chị Thu Hà đang giặt quần áo, Khải khựng lại một nhịp, gương mặt hắn khẽ biến đổi rồi nhanh chóng lấy lại vẻ nhã nhặn thường ngày. Hắn bước lại gần, đẩy gọng kính cận lên sống mũi, cất giọng hỏi han đầy ân cần:
- Chào cô Hà. Sáng ra đã bận rộn giặt giũ thế này rồi à? Mà hôm nay tôi không nghe tiếng máy may của cô, nhà có chuyện gì sao? Sao cháu Nam không ra chơi với mấy đứa nhỏ thế hả cô?
Chị Thu Hà dừng tay vò áo đứng dậy, thở dài, nét mặt phờ phạc vì thức đêm hiện rõ:
- Khổ lắm anh Khải ạ! Chẳng biết chiều qua tụi nhỏ chơi bời cái gì ở bên vườn xà cừ hoang mà tối về cháu Nam nhà tôi lên cơn sốt co giật, nói mê nói nhảm suốt cả đêm. Tôi phải thức cả đêm để trông, bây giờ mới đỡ.
Nghe đến hai từ "vườn xà cừ", đôi mắt sau tròng kính của Khải khẽ nheo lại. Một tia nhìn lạnh lùng sắc lẹm thoáng qua cực nhanh trong đáy mắt hắn rồi biến mất. Hắn nắm chặt lấy chiếc túi ni lông đen trong tay, giọng nói vẫn bình tĩnh, ôn hòa như thường:
- Trẻ con tầm tuổi này đề kháng kém, thời tiết dạo này lại nắng mưa thất thường. Mà cái vườn xà cừ ở bên cạnh hoang vu, cỏ lút đầu gối thế kia thì muỗi mòng rồi sâu bọ nhiều vô kể. Có khi cháu Nam bị muỗi độc đốt nên mới sốt đấy cô. Cô Hà phải cẩn thận, tuyệt đối đừng cho cháu sang bên đó chơi nữa nghe. Tôi cũng cấm tiệt thằng Bảo nhà tôi rồi đấy!
Chị Thu Hà gật đầu liên lịa, hoàn toàn đồng tình với lời khuyên của người hàng xóm tử tế:
- À vâng, anh nói phải! Đêm qua gió thổi từ bên đấy sang, tôi còn ngửi thấy mùi gì thối um lên như là mùi con gì chết đấy, ngột ngạt không chịu nổi. Để lát nữa cháu Nam tỉnh, tôi phải dặn cháu cạch mặt vườn xà cừ ấy ra mới được ạ.
Khải khẽ mỉm cười, cái nụ cười nhã nhặn nhưng nếu nhìn kỹ thì cơ mặt gã cứng đờ, không chút cảm xúc:
- Khu đấy ô nhiễm lắm ạ. Nghe bảo ban quản lý đô thị bỏ hoang mấy năm nay không có ai dọn dẹp, chuột bọ chết ở đấy là chuyện thường thôi. Tôi có chút việc xin phép đi trước nhé cô! Vào chăm cháu đi, cần thuốc men hay giúp đỡ gì thì cứ gọi tôi một tiếng, đừng ngại.
Nói rồi Khải quay người xách chiếc túi ni lông đen rảo bước thật nhanh ra đầu ngõ. Chị Thu Hà nhìn theo cái dáng vẻ vội vàng một cách bất thường của gã, trong lòng bỗng dấy lên một cảm giác lạ lạ. Chiếc túi ni lông đen gã cầm trên tay dường như có cái thứ gì đó hình tròn nặng trĩu ở bên trong, đáy túi hơi rỉ ra một vài giọt nước màu nâu xỉn. Dù bị mùi nước hoa lấn át nhưng thứ bên trong vẫn bốc lên một mùi tanh nhàn nhạt khi gã lướt ngang qua người chị. Nhưng chắc là thịt mới mua ngoài chợ nên chị Thu Hà cũng chẳng kịp nghĩ ngợi nhiều. Tiếng Nam trong nhà lại ú ớ kêu khóc đòi mẹ khiến chị vội vàng chạy vào trong phòng.
Đến buổi chiều, đám đàn bà con gái trong ngõ bắt đầu tụ tập bên quán nước trà của bà Mùi để buôn chuyện. Chị Thu Hà sau khi dỗ cho Nam ăn được nửa bát cháo và uống thuốc hạ sốt, thấy con đã ngủ say thì mới tranh thủ bước ra ngoài mua mấy quả chanh tươi về vắt nước cho con uống. Vừa bước đến quán nước, chị đã nghe tiếng bà Mùi oang oang:
- Tôi nói cho các chị biết nhé, cái mùi thối đêm qua không phải là mùi rác đâu nhé! Nhà tôi ở ngay đầu hướng gió, cái mùi ấy nó khắm, nó tởm lợp kinh khủng lắm. Tôi sống ngần này tuổi đầu cũng ngửi đủ thứ mùi trên đời rồi, cái mùi đêm qua đích thị là mùi thịt thối rữa lâu ngày! Có khi nào đứa nào nó ác đức mang cả bao tải mèo chết hay là chó chết vứt vào mấy cái bụi rậm ngoài vườn xà cừ kia kìa!
Một chị thợ may khác trong xóm tên Liên cũng chép miệng phụ họa vào:
- Phải đấy bà Mùi ơi! Đêm qua nhà con đóng chặt hai lớp cửa kính mà cái mùi ấy nó vẫn bay vào được. Chồng con sáng ra đi làm bảo là đi qua vườn xà cừ thấy ruồi nhặng bay đen kịt một góc ở gần mấy lùm cỏ lau ở sâu bên trong ấy, kinh bỏ xừ ra! Để tình trạng này vài ngày nữa chắc cả xóm mình thối um lên không sống nổi mất thôi!
Chị Thu Hà bước vào lên tiếng tham gia câu chuyện:
- Chiều hôm qua thằng Nam nhà em với cả mấy đứa nhỏ vào đấy chơi, lúc về nó lên cơn sốt co giật nói mê sảng suốt đêm ạ. Em hoảng quá, sáng nay gặp anh Khải anh ấy cũng bảo bên đấy ô nhiễm muỗi độc nhiều lắm nên em cấm tiệt thằng Nam rồi, từ giờ không được chơi bên đấy nữa.
Bà Mùi nghe thấy thế liền hạ giọng, nhìn ngó xung quanh rồi bảo:
- Thằng Khải nó nói đúng đấy! Mà nhắc đến nhà nó tôi mới nhớ, sáng sớm tinh mơ hôm nay, 3-4 giờ sáng tôi vừa mở cửa hàng định đun nước pha trà đã thấy thằng Khải nó lục đục xách xô xách chậu ra giặt giũ cái gì ở ngoài sân giếng rồi ấy! Tôi thấy lạ mới hỏi thì thấy nó giật bắn mình, mặt mày tái mét rồi bảo là thằng Bảo đêm qua tè dầm ra giường, nó phải đem giặt gấp không thì hôi. Mà tôi nhìn qua cái chậu nước giặt của nó, nước cứ đỏ đục như là nước rửa thịt ấy! Giằng hỏi thì nó bảo là thằng Bảo bị chảy máu cam dính đầy ra chăn!
Cuộc chuyện phiếm của đám đàn bà xóm trọ Bãi Dâu cứ thế kéo dài. Người ta thi nhau than vãn về cái mùi hôi thối bí ẩn từ phía vườn xà cừ, thi nhau ca ngợi người chồng kiểu mẫu như Khải, rồi sẵn đem ông chồng nhà mình ra nói đôi ba câu.
Màn đêm ở xóm trọ Bãi Dâu dần buông xuống. Mùi hôi thối từ phía vườn xà cừ bỏ hoang không những không giảm bớt mà ngày càng trở nên nồng nặc hơn, bủa vây lấy toàn bộ khu dân cư. Cơn sốt của bé Nam đã dứt, thằng bé không còn co giật nữa nhưng tinh thần lại rơi vào trạng thái hoảng loạn. Nó nằm im trên giường, mắt mở to trừng trừng nhìn lên trần nhà, tuyệt đối không chịu nói một câu nào. Chỉ cần nghe thấy một tiếng động nhỏ ngoài cửa sổ là toàn thân lại run bắn lên, rúc sâu vào lòng mẹ.
Đến khoảng gần 11 giờ đêm, khi cả xóm trọ Bãi Dâu đã chìm vào giấc ngủ sau một ngày lao động mệt mỏi, chị Thu Hà đang nằm ôm con thì chợt nghe thấy một tiếng động lạ. Tiếng động giống như tiếng móng tay người đang ra sức cào cấu, gãi vào cái thứ gì đó. Chị Thu Hà cứng đờ người, hơi thở nghẹn lại. Trong căn phòng tối tăm chỉ có ánh trăng mờ nhạt từ bên ngoài hắt qua khe cửa, tiếng cào cấu mỗi lúc một nhanh hơn, dồn dập hơn.
Chị Thu Hà lấy hết can đảm khẽ xoay người nhìn về phía cửa sổ, và rồi một cảnh tượng kinh hoàng hiện ra trước mắt khiến chị suýt chút nữa thì thét lên thành tiếng, chị phải lấy tay tự bịt chặt miệng mình. Phía sau tấm kính mờ của cửa sổ, dưới ánh trăng có một cái bóng dị dạng đang áp sát vào mặt kính. Đó không phải là bóng của một người bình thường. Cái đầu của nó bị vẹo sang một bên như bị gãy cổ, lủng lẳng bên bờ vai. Từ phần cổ đứt lìa, những sợi tóc dài rũ rượi bết dính cái thứ chất lỏng đen sẫm đang quét qua quét lại trên mặt kính tạo thành những vệt loang lổ. Cái bóng ấy đang dùng những ngón tay khẳng khiu trơ xương cào cấu điên cuồng vào cửa sổ, rên rỉ ra những tiếng kêu nghẹn ứ.
Bé Nam trong lòng chị Thu Hà lúc này cũng mở mắt ra. Thằng bé không khóc, không hét, chỉ nhìn chằm chằm vào cái bóng dáng dị dạng ở ngoài cửa sổ. Hai dòng nước mắt chảy dài xuống má, thằng bé mấp máy môi phát ra những tiếng thì thầm khản đặc:
- Mẹ ơi... cô ấy lại đến kìa... Cô ấy bảo dưới đất lạnh lắm, tối lắm... Cô ấy bảo không tìm thấy nó... Mẹ ơi cứu cô ấy với...
Chị Thu Hà kinh hãi tột độ, vội ôm ghì lấy con, kéo chiếc chăn bông trùm kín đầu hai mẹ con lại. Trong bóng tối chật hẹp của tấm chăn, chỉ nghe rõ tiếng tim mình đập liên hồi và cả tiếng gió rít qua khe cửa rợn người. Khi một lần nữa lấy hết can đảm để vén chăn lên, chị chỉ thấy ngoài cửa sổ trống trơn, cái bóng khi nãy mất tăm, chỉ còn lại màn đêm đầy sao và yên tĩnh. Đó không thể nào là ảo giác được!
Những lời đồn thổi về cái mùi hôi thối bí ẩn từ phía vườn xà cừ bỏ hoang giống như một làn sương độc cứ mỗi ngày lại đặc thêm một chút, bủa vây lấy tâm trí của những người dân trong ngõ nghèo. Ba ngày sau trận sốt kéo dài của bé Nam, lệnh cấm chính thức được thông báo ra từ những người lớn trong xóm trọ Bãi Dâu. bà Mùi chủ xóm trọ Bãi Dâu thậm chí còn dùng mấy thanh củi gia cố lại cái đoạn tường gạch đổ nát ngăn cách vườn xà cừ. Mấy đứa nhỏ bị bà hù, đứa nào mà không nghe lời dám chạy tới vườn xà cừ chơi sẽ bị đuổi thẳng cổ ra khỏi khu trọ. Người lớn không ai tin chuyện ma quỷ tự nhiên khi không sẽ quấy phá, họ chỉ sợ con cái mình dính vào tệ nạn hoặc là đổ bệnh giữa cái mùa hè oi bức này.
Chị Thu Hà đương nhiên là người đồng tình nhất. Chị khóa chặt cửa sổ, kéo rèm kín mít, dẫu căn phòng trọ có hầm hập như một lò bánh mì thì chị vẫn cắn răng chịu đựng. Thế nhưng điều làm chị lo sợ nhất không phải là cái nóng, mà là sự thay đổi kỳ dị của đứa con trai nhà mình. Nam trở nên lầm lì, ít nói hẳn đi. Nó không còn đòi ra sân chơi với đám trẻ trong xóm nữa mà chỉ suốt ngày ngồi thu lu ở góc giường tre, đôi mắt mở to trừng trừng nhìn vào khoảng không vô định. Có những lúc chị Thu Hà đang cắm cúi trên bàn máy may, khi nhìn sang thì thấy Nam đang đứng đực mặt trước bức tường gạch, một tay giơ lên không trung như thể đang nắm lấy tay của một người nào đó dắt đi từng bước qua căn phòng chật chội.
Chị Thu Hà khản giọng gọi, tim thắt lại:
- Nam ơi! Con làm gì đấy?
Thằng bé giật mình quay lại, đôi mắt dại đi trong giây lát rồi ngơ ngác nhìn mẹ, lý nhí đáp:
- Con... con có làm gì đâu mẹ... Tại cô ấy bảo trong phòng mình mát hơn ở ngoài kia, cô ấy muốn ở đây chơi với con...
Chị Thu Hà nghe con nói mà tóc gáy dựng ngược lên, chị lao đến ôm chặt lấy bờ vai gầy guộc của con, giọng vừa run vừa tức giận:
- Không có cô nào hết á! Từ giờ không được nói linh tinh nữa nghe chưa? Mẹ sợ lắm rồi đấy Nam ơi!
Nam nhìn những giọt nước mắt lăn dài trên gương mặt hốc hác của mẹ, thằng bé ngoan ngoãn gật đầu rồi lại lầm lũi leo lên giường nằm im. Chị Thu Hà nhìn con lòng đau như cắt. Chị tự nhủ thầm có lẽ cuối tuần này khi được lãnh tiền công hàng gia công, chị phải đưa con đi bệnh viện lớn khám xem thế nào, chứ cứ để tình trạng này chị sợ đầu óc thằng bé sẽ có vấn đề mất. Nếu bệnh viện khám mà không ra nổi thì chỉ đành phải đưa con đi tìm thầy mà xem thôi.
Giữa lúc ngõ nghèo đang chìm trong bầu không khí ngột ngạt âm u ấy, thì ở căn nhà ba tầng khang trang của Khải, cuộc sống vẫn diễn ra một cách lặng lẽ, quy củ. Người ta vẫn thấy gã trưởng phòng kế toán ăn mặc lịch sự đi làm từ sáng sớm, tối về lại ân cần chăm sóc con trai. Chỉ có điều, căn nhà ba tầng ấy dạo này đóng cửa cài then vô cùng nghiêm ngặt, rèm cửa sổ luôn được kéo kín mít từ tầng một lên đến tầng áp mái, không để lộ một chút ánh sáng hay khe hở nào ra ngoài.
Thời gian trôi qua thêm hai ngày nữa, cái mùi hôi thối từ phía vườn xà cừ bỏ hoang đã lên đến đỉnh điểm. Ai cũng bảo nhau chắc chắn có một cái xác động vật lớn lắm đang thối rữa ở sâu bên trong lùm cỏ lau. Nhưng vì vườn xà cừ hoang vắng, cỏ dại mọc lút lại không có đèn đường nên chẳng ai dại gì mà chui vào đó để tìm kiếm cả.
Mãi đến một đêm thứ Năm, cô Hạnh 24 tuổi, là một nhân viên văn phòng thuê căn trọ ở ngay dãy đối diện với phòng của chị Thu Hà. Hạnh sống một mình và nuôi một chú chó cỏ lông đen tên là Mực. Con Mực thông minh lắm, bình thường cứ tầm 5-6 giờ chiều đi làm về là Hạnh sẽ dắt nó đi dạo một vòng. Thế nhưng dạo gần đây công ty của Hạnh bước vào đợt chốt sổ quý, công việc bận rộn ngập đầu khiến cô phải liên tục tăng ca đến tận đêm muộn mới được về.
Đêm hôm đó, gần 11 giờ đêm Hạnh mới lục đục chạy xe máy về đến xóm trọ Bãi Dâu. Vừa dắt xe vào sân, con Mực trong phòng đã cào cửa sủa ầm lên vì bị nhốt cả ngày trong không gian chật hẹp. Hạnh nhìn con Mực thấy tội nghiệp quá nên móc sợi dây xích vào cổ nó rồi dắt đi dạo một chút. Đêm muộn ngõ nghèo đã chìm vào tĩnh lặng, chỉ còn ánh đèn cao áp từ phía đường lớn hắt lại những vệt sáng lờ mờ yếu ớt. Bình thường Hạnh chỉ dắt con Mực đi loanh quanh ở ngoài ngõ đường trải bê tông phẳng phiu, thế nhưng đêm nay thấy con cún cưng cứ hăm hở lao về phía trước, Hạnh nghĩ là mình đã bỏ bê nó mấy ngày nay nên thôi đành tặc lưỡi chiều theo ý nó để nó muốn đi đâu thì đi.
Con Mực đi sâu hơn về phía vườn xà cừ bỏ hoang. Càng đi sâu vào trong, không gian càng trở nên tối tăm và âm u rợn người. Những tán cây xà cừ cổ thụ đan cài vào nhau che khuất cả ánh trăng non yếu ớt trên đỉnh đầu. Cái mùi hôi thối ngai ngái nồng nặc nương theo làn gió đêm thổi thẳng vào mặt khiến Hạnh phải lấy vạt áo khoác che kín mũi, rùng mình lẩm bẩm:
- Hơi kinh quá, mùi gì mà thối thế này không biết nữa. Mực ơi đi nhanh lên rồi về, thối quá đi!
Thế nhưng con Mực không nghe lời. Vừa đi đến gần một gốc cây cổ thụ dáng hình vặn vẹo xù xì nằm khuất sau những lùm cỏ lau, con chó bỗng nhiên dừng lại. Hai tai nó dựng đứng lên, bộ lông trên lưng dựng ngược, toàn thân nó căng ra đầy cảnh giác. Nó đột nhiên gầm gừ rồi lao điên cuồng về phía gốc cây sủa ầm lên. Nó giật sợi dây rất mạnh khiến Hạnh hoảng hốt gọi lớn, cố sức kéo sợi dây lại:
- Mực ơi! Đi về! Sủa cái gì mà sủa, đêm hôm người ta đang ngủ đấy, về mau!
Nhưng con Mực không nghe lời chủ, nó dùng hai chân trước cào bới điên cuồng xuống lớp đất xốp ẩm ướt ở dưới gốc cây to. Hạnh đứng cách đó vài bước chân, lòng bỗng dấy lên một nỗi sợ hãi vô hình. Cô cảm giác như trong bóng tối dày đặc của bụi rậm kia có một đôi mắt lạnh lẽo đang chằm chằm nhìn vào mình.
Con Mực càng bới càng hăng, lớp đất xốp trên bề mặt nhanh chóng bị lật tung lên. Đúng lúc này, cái mùi hôi thối bỗng bốc lên gấp mấy lần ban nãy, tanh nồng và khắm lặm đến mức Hạnh phải ôm lấy bụng mà nôn khan. Cô không thể chịu đựng thêm được nữa, quyết định bước tới giật mạnh dây xích để lôi con chó đi:
- Thối chết mất thôi, Mực mày bới phân đấy hả?
Hạnh vừa bước tới vừa rút chiếc điện thoại trong túi quần ra bật đèn pin điện thoại lên để soi xem con chó đang bới cái gì. Dưới luồng ánh sáng lạnh lẽo ấy, Hạnh thấy con Mực lôi từ dưới lớp đất xốp lên một thứ gì đó bọc trong một mảnh túi ni lông màu đen đã bị cào rách rưới. Nó ngoạm cái thứ nó vừa đào lên được mang tới thả dưới chân Hạnh.
Hạnh bị mùi tanh làm nhợn cổ, nhìn cái thứ chất lỏng đỏ đục đang chảy ra, cô run rẩy nhặt một nhánh cây dưới đất lên cố nén sợ hãi khều khều bên trong cái bao ra xem thử. Hạnh chết sững tại chỗ khi nhận ra thứ mà mình vừa khều ra là một bộ phận cơ thể người đã phân hủy nặng, sưng phù, thối rữa và da thịt chuyển sang màu xám xịt, loang lổ những vệt máu khô đen ngòm. Trên phần cổ tay của cái xác vẫn còn lấp lánh một chiếc nhẫn cưới bằng vàng, chiếc nhẫn khảm một viên đá nhỏ sáng lên dưới ánh đèn.
Hạnh trừng mắt nhìn bàn tay người đang phân hủy ấy, hơi thở nghẹn ứ nơi lồng ngực, đầu óc cô trống rỗng. Cô buông lỏng sợi dây xích, chiếc điện thoại trên tay rơi bộp xuống thảm cỏ mục. Một tiếng thét kinh hoàng thất thanh xé toạc màn đêm:
- Có ai không! Cứu tôi với! Có người chết! Có người chết!
Tiếng hét đầy hoảng loạn của Hạnh phá tan sự yên bình của ngõ nghèo. Chỉ vài phút sau, đèn điện ở các phòng trọ đồng loạt bật sáng. Chị Thu Hà cũng giật mình tỉnh giấc. Nghe tiếng hô hoán bên ngoài, chị vội vàng bế thằng Nam đang run rẩy trên giường hòa vào đám người ồn ào để chạy ra vườn xà cừ xem xét tình hình.
Khung cảnh vườn xà cừ bỏ hoang chưa bao giờ hỗn loạn và ồn ào đến như thế. Tiếng thét xé lòng của Hạnh kéo theo hàng chục con người từ xóm trọ Bãi Dâu ùa ra. Ai nấy đều mặt mày hớt hãi khi nhìn thấy xác chết, hàng loạt tiếng nôn ói và tiếng la hét vang lên:
- Ôi trời đất ơi, xác người chết! Báo công an đi, báo công an liền nhanh lên!
Giữa tiếng la hét hỗn loạn, bà Mùi mặt trắng như tờ giấy, tay chân run lẩy bẩy rút chiếc điện thoại ra bấm số gọi cho công an. Chị Thu Hà đứng chen chúc trong đám đông, hai tay ôm chặt lấy đầu thằng Nam, ép mặt thằng bé vào người mình không cho nó nhìn cái xác. Toàn thân Nam run lên bần bật, hơi thở dồn dập, đầu óc thằng bé giống như lại rơi vào một trạng thái hoảng loạn giống hệt cái đêm nó phát sốt hôm trước.
Chưa đầy 15 phút sau, công an đã có mặt tại hiện trường. Tiếng một chiến sĩ công an gióng giạc vang lên, nhanh chóng giăng dải băng chuyên dụng màu vàng để phong tỏa toàn bộ khu vực lân cận vụ án để điều tra:
- Tất cả mọi người lùi lại! Không ai được bước vào khu vực này! Tránh xa ra để chúng tôi làm nhiệm vụ!
Khi đội điều tra viên làm việc, Hạnh lúc này đã được dìu ra một chiếc ghế đá gần đó, mặt xám ngắt, khóc không thành tiếng. Bên cạnh là con Mực vẫn đang gầm gừ đầy cảnh giác. Một điều tra viên trẻ tuổi bước đến bên Hạnh để lấy lời khai:
- Cô Hạnh, cô bình tĩnh lại rồi kể rõ cho chúng tôi nghe. Đêm muộn thế này sao cô lại dắt chó vào sâu trong chỗ này vậy?
Theo lời của bà Mùi cho biết thì khu vực này đã được thông báo đến các phòng trọ là khu vực cấm vào. Hạnh dắt chó đi dạo đêm, lại chưa kể dám đi vào nơi âm u vắng vẻ thế này thì đúng là rất kỳ lạ. Hạnh nấc nghẹn vừa khóc vừa chỉ tay về phía ngõ:
- Tôi hoàn toàn không biết là trong xóm mọi người cấm ra vào vườn xà cừ. Hôm nào tôi cũng đi làm từ sáng sớm đến tối muộn nên không có nghe được thông báo. Con Mực nhà tôi bị nhốt cả ngày tù túng, thấy nó tội nghiệp nên tôi cho nó đi dạo một chút, ai ngờ nó lại bới ra xác chết như thế. Ôi tôi sợ quá cán bộ ơi!
Trong lúc công an đang lấy lời khai của Hạnh và mở rộng phạm vi để tìm kiếm các phần thi thể còn lại, đám đông người dân xóm trọ Bãi Dâu vẫn đứng vòng ngoài xì xào bàn tán. Sau gần một tiếng đồng hồ, lực lượng chức năng tìm được thêm ba túi ni lông đen loại lớn. Khi các chuyên gia pháp y tiến hành rạch những lớp ni lông dày để khám nghiệm từng bộ phận thi thể của nạn nhân, số lần lượt lộ ra sau lớp ni lông rách nát: xác thịt đã phân hủy mạnh do bị chôn dưới đất ẩm, dòi bọ lúc nhúc, biến dạng đến mức không thể nhận dạng. Thế nhưng điều khiến tất cả các điều tra viên có mặt tại hiện trường phải biến sắc chính là khi họ cố xếp các bộ phận lại với nhau: nạn nhân bị chia thành nhiều khúc một cách man rợ nhưng lại thiếu mất cái đầu. Thứ quan trọng nhất để nhận dạng nạn nhân lại bặt vô âm tín. Hung thủ đã cố tình mang phần đầu đi giấu ở một nơi khác hoặc tiêu hủy bằng một phương thức tinh vi hơn để kéo dài thời gian điều tra của cơ quan chức năng.
Đúng lúc này, chị Thu Hà chợt nhận ra Khải cũng đã đứng trong đám đông từ lúc nào. Hôm nay hắn mặc chiếc áo thun tối màu, đứng khuất sau bóng một thân cây lớn, đôi mắt hắn sau tròng kính cận dán chặt vào hố đất đang bị cảnh sát phong tỏa. Biểu cảm của Khải vẫn là bàng hoàng, xót xa như bao người hàng xóm khác, hắn khẽ thở dài lắc đầu ái ngại. Thế nhưng nếu nhìn thật kỹ, cơ mặt gã đang căng ra một cách bất thường và những ngón tay gã đang bấm chặt vào lòng bàn tay đến mức trắng bệch.
Chị Thu Hà đứng ngay sát cạnh bà Mùi. Bà cụ sau một hồi hoàn hồn, bất chợt bà giật thót mình, lấy tay bịt miệng rồi ghé sát tai chị Thu Hà nói nhỏ, giọng run lên như sắp khóc:
- Cô Hà! Cô nhìn... nhìn cái bàn tay kia kìa! Cái nhẫn cưới đó, mặt trong có đính hột đá nhỏ sáng sáng ấy, có đúng không? Cô nhìn thử xem tôi có nhìn lầm không?
Chị Thu Hà nhíu mày nhìn theo hướng chỉ của bà Mùi:
- Đúng là có thật, không lầm đâu bà. Chắc người đó đã kết hôn rồi. Mà bà biết đó là ai sao?
Bà Mùi nuốt nước bọt ực một cái, giọng hạ thấp xuống hết mức có thể, chỉ đủ cho hai mẹ con chị Thu Hà nghe:
- Vậy là đúng rồi còn gì nữa! Chiếc nhẫn đó là vàng tây, mặt vuông khảm đá chìm của cái Thanh vợ thằng Khải chứ ai! Hồi hai vợ chồng nó mới cưới nhau, nó toàn mang sang khoe với tôi suốt đấy, bảo là hàng đặt riêng ở tiệm vàng lớn. Tôi không thể nào nhìn nhầm được! Trời đất ơi, chẳng lẽ... chẳng lẽ cái Thanh không phải bỏ đi mà là...
Lời bà Mùi chưa kịp dứt thì chị Thu Hà đã cảm thấy lạnh ngắt từ sau gáy. Chị bỗng dưng nhớ lại một chuyện: chiếc túi ni lông đen nặng trĩu rỉ nước màu nâu bốc mùi tanh mà Khải xách đi sáng sớm hôm trước, rồi chậu nước giặt đỏ đục lúc 4 giờ sáng mà bà Mùi nhìn thấy. Nhưng chị không dám đoán. Vừa định bụng lát nữa sẽ âm thầm báo lại những gì mình biết cho công an để họ điều tra, nhưng rồi thằng Nam bỗng nhiên cấu chặt lấy vạt áo của chị Thu Hà. Chị cúi xuống thấy Nam không nhìn vào hiện trường vụ án, mà đôi mắt trống rỗng của nó đang xoáy thẳng vào khoảng trống tối tăm ngay phía sau lưng Khải. Thằng bé mấp máy môi thốt ra những tiếng thì thầm rất nhỏ:
- Mẹ ơi... cô ấy không có... Cô ấy đang ở đó, phía sau chú... Cô ấy ôm chặt lắm, chú không thấy nặng sao mẹ? Cô ấy bảo chú trả lại cho cô ấy...
- Trả... trả cái gì cơ?
Lời nói của đứa trẻ lọt thỏm giữa tiếng còi xe cảnh sát và tiếng xôn xao của đám đông, nhưng đối với chị Thu Hà, đó chẳng khác nào tiếng sét đang đánh ngang tai. Chị đưa mắt nhìn sang Khải, đúng lúc hắn như cảm nhận được ánh nhìn của chị, từ từ xoay đầu lại. Ánh đèn flash của máy ảnh chớp tắt rọi thẳng vào gương mặt Khải, phản chiếu qua tròng kính cận một tia nhìn lạnh lùng chết chóc hướng thẳng về phía mẹ con chị Thu Hà làm chị giật nảy mình.
Đêm hôm đó, người dân xóm trọ Bãi Dâu ai nấy đều lục đục kéo nhau về phòng chốt cửa cài then. Không ai bảo ai nhưng trong lòng mỗi người đều tự dấy lên một nỗi bất an tột cùng. Một vụ án mạng phân xác ngay sát vách nhà mình, hung thủ lại là kẻ có thể đang lảng vảng sống ngay trong khu này thì ai mà không sợ cho được.
Chị Thu Hà dắt Nam về phòng, đầu óc rối bời như tơ vò. Vừa khóa xong chốt cửa, chị còn chưa kịp thở phào thì tiếng gõ cửa nhẹ nhàng nhưng đều đặn lại vang lên giữa đêm khuya thanh vắng. Tiếng gõ cửa ấy khiến tim chị Thu Hà thót lên. Chị run rẩy bước lại gần cửa:
- Ai... ai đó?
Giọng Khải vang lên:
- Tôi đây cô Hà ơi! Thấy mẹ con cô mới từ vườn xà cừ về, tôi sang hỏi thăm tình hình cháu Nam tí thôi đấy mà.
Chuyện chiếc nhẫn bà Mùi đã khai báo với công an, danh tính nạn nhân sớm đã được xác định, có lẽ Khải cũng là đối tượng bị tình nghi. Chị Thu Hà nuốt nước bọt lấy lại bình tĩnh rồi hé mở một khe cửa nhỏ. Khải đứng khuất sau ánh đèn hành lang tù mù, hắn nắm tay con trai, gương mặt nửa tối nửa sáng. Tròng kính cận phản chiếu ánh sáng nhợt nhạt, hắn nhìn chị, nụ cười vẫn nhã nhặn như thường ngày nhưng mang một vẻ gì đó như dò xét:
- Muộn thế này rồi mà công an làm việc ồn ào quá, làm thằng Bảo nhà tôi cũng giật mình tỉnh giấc. Lúc nãy ở ngoài kia tôi thấy cô Hà với cả bà Mùi đứng nói chuyện gì trầm ngâm lắm, công an họ có hỏi han gì cô với bà không? Tại tôi thấy họ chẳng hỏi tôi gì cả...
Câu hỏi của Khải nghe thì như quan tâm nhưng ánh mắt gã lại đảo nhanh qua vai chị Thu Hà, dán chặt vào thằng Nam đang ngồi thẫn thờ trên giường. Bản năng của một người mẹ khiến chị Thu Hà lập tức hơi nhích chân qua che khuất nó với tầm mắt của hắn. Chị cố ép cơ mặt mình giãn ra, giả vờ mệt mỏi xua tay đáp:
- Ôi, công an họ hỏi tôi mấy câu, tôi bảo là gần đây nghe thấy có mùi hôi tưởng con gì chết chứ không biết là xác người. Còn bà Mùi thì cứ cằn nhằn sợ xóm trọ Bãi Dâu bị mang tiếng rồi người ta chuyển đi hết thì bà ấy mất nguồn thu. Tôi mệt quá nên xin phép bế cháu về trước đấy anh ạ, thằng Nam lại đang hầm hập sốt lại mất rồi.
Khải nhìn chằm chằm vào mắt chị Thu Hà vài giây như muốn xem chị có đang nói dối hay không. Thấy thái độ của chị hoàn toàn tự nhiên, cơ mặt hắn mới giãn ra, hắn gật đầu:
- Thế cô nghỉ ngơi đi nhé! Trẻ con tầm này nhát gan, đừng để cháu nghe người ta bàn tán linh tinh lại đâm ra hoảng loạn thôi. Cha con tôi xin phép về, mai tôi lại dẫn thằng Bảo sang chơi sau.
Chờ cho tiếng bước chân của Khải khuất hẳn sau cánh cổng sắt nhà hắn, chị Thu Hà mới đổ ập người vào cánh cửa, mồ hôi hột túa ra ướt đẫm lưng áo. Chị biết hắn đang nghi ngờ. Sự xuất hiện đột ngột và những câu hỏi dò xét của hắn càng khẳng định cho suy đoán của chị rằng Khải chính là kẻ sát nhân.
Chờ thêm khoảng 30 phút, khi cả xóm trọ Bãi Dâu đã hoàn toàn chìm vào im lặng, chị Thu Hà lại hé cửa nhìn ra ngoài. Thấy căn nhà ba tầng của Khải tối om, chị mới rón rén nép sát theo mép tường, len lén chạy ra đầu ngõ nơi có hai chiến sĩ công an đang túc trực đêm để bảo vệ. Chị Thu Hà run rẩy tiếp cận vị điều tra viên trẻ tuổi lúc nãy, cố gắng hạ thấp giọng kể lại toàn bộ những gì mình biết: từ chiếc túi ni lông đen rỉ nước nâu tanh mà Khải xách đi sáng sớm, chậu nước giặt đỏ đục mà bà Mùi nhìn thấy, cho đến chiếc nhẫn cưới giống của cô Thanh.
Vị điều tra viên chăm chú lắng nghe, nét mặt anh trở nên vô cùng nghiêm trọng. Anh ghi chép cẩn thận vào sổ tay rồi dặn chị Thu Hà lập tức quay về phòng khóa chặt cửa để đảm bảo an toàn.
Đêm đó, chị Thu Hà về giường nằm ôm chặt lấy con mà không thể nào ngủ được. Đến khoảng 3 giờ sáng, bé Nam lại có biểu hiện lạ. Thằng bé không sốt, không co giật nhưng hai tay nó cứ quờ quạng lên không trung, năm ngón tay co quáp lại như thể đang cố bám víu vào một vật gì đó. Nó cứ nói đứt quãng những từ vô nghĩa:
- Nặng... nặng quá... Tròn vo... lăn lông lốc...
Chị Thu Hà vừa sợ vừa thương con, cố dỗ dành con ngủ nhưng rồi chính chị cũng thiếp đi vì quá kiệt sức lúc nào chẳng hay. Trong cơn mơ màng, chị rơi vào một giấc mộng mị. Chị thấy mình đang đứng giữa một căn phòng tối tăm, nồng nặc mùi máu và hóa chất tẩy rửa. Ánh đèn trên trần chớp lóe liên tục. Trong ánh sáng nhập nhòe ấy, chị thấy bóng một người đàn ông đang điên cuồng vung dao chặt xuống một thứ gì đó trong bồn tắm. Tiếng dao chặt ghê rợn vang lên đều đặn. Chị không hiểu sao mình lại không thấy sợ, muốn chạy lại xem đó là ai nhưng bóng đèn chớp tắt liên hồi khiến gương mặt kẻ đó cứ nhòe đi, chỉ để lại một đôi mắt lạnh lùng sau tròng kính phản chiếu ánh sáng sắc lẹm.
Ngay khi người đàn ông quay lại nhìn, chị Thu Hà liền vô thức lùi lại một bước, nhưng rồi chị nhận ra có ai đó đang đứng sau lưng mình. Từng giọt nước đỏ thẫm chậm rãi nhỏ giọt xuống vai chị Thu Hà. Chậm chạp nghiêng đầu muốn nhìn rõ xem đó rốt cuộc là ai, ngay sát bên tai chị, một mái tóc dài rũ rượi bết dính đầy máu và nước rỉ từ thịt thối rũ xuống. Và rồi một khuôn mặt phụ nữ bị biến dạng, sưng phù, xám xịt đột ngột ghé sát vào mặt chị. Hai hốc mắt người đàn bà ấy trống rỗng, quanh viền mắt nổi lên đầy tia máu. Từ cái cổ gãy gập lủng lẳng bên vai, khuôn miệng của người đàn bà mấp máy phát ra những tiếng rên rỉ nghẹn ứ.
Chị Thu Hà giật mình tỉnh giấc, mồ hôi vã ra như tắm, tim đập loạn nhịp. Nhìn qua cửa sổ mới biết trời lúc này đã tờ mờ sáng.
Đợi cho đến khi trời sáng hẳn, chưa kịp bước ra khỏi giường thì chị Thu Hà đã nghe thấy tiếng ồn ào xôn xao ngoài ngõ còn lớn hơn cả đêm qua. Chị vội vàng mở cửa dắt Nam ra xem thì thấy xe công an đã đỗ chật kín trước cửa căn nhà ba tầng của Khải. bà Mùi và mấy chị hàng xóm đang đứng tụm năm tụm ba, mặt mày đầy vẻ hoang mang.
Chị Thu Hà bước lại gần khẽ hỏi chị Liên thợ may:
- Có chuyện gì thế chị? Sao công an lại bao vây nhà anh Khải thế kia?
Chị Liên ghé tai chị Thu Hà thì thầm đầy hốt hoảng:
- Thằng Khải mất tích rồi! Sáng công an mang lệnh đến triệu tập nó lên đồn điều tra, ai ngờ đập cửa mãi không được, người ta phá khóa vào thì trong nhà chỉ có mỗi thằng Bảo đang ngủ, còn thằng Khải thì biến mất từ đêm qua rồi!
Nghe đến đây, tai chị Thu Hà như ù đi. Khải bỏ trốn, ngay cả con trai mình mà hắn cũng bỏ lại. Giữa hàng loạt câu hỏi bủa vây, một sự bất an dấy lên trong lòng chị Thu Hà.
Chị Thu Hà dắt Nam quay trở lại phòng khóa chặt cửa lại. Chị kéo ghế ngồi đối diện với con trai, đặt hai tay lên vai Nam nhìn thẳng vào đôi mắt vẫn còn chút ngơ ngác của thằng bé. Cố giữ giọng thật dịu dàng nhưng nghiêm túc:
- Nam, con nghe mẹ hỏi này. Con phải thật thà trả lời mẹ. Hôm mà con và Bảo cùng mấy anh chị sang vườn xà cừ chơi ấy, con có làm gì chỗ cạnh gốc cây kia không?
Nhất định là thằng bé nhà chị đã làm chuyện gì đó không nên làm, chứ nếu không thì tại sao trong đám trẻ ấy lại chỉ có một mình con trai chị lại có những biểu hiện lạ như thế!
Nam nhìn mẹ, môi nhỏ mím chặt lại. Ký ức sợ hãi ngày hôm đó lại ùa về, thằng bé lý nhí, giọng run run:
- Hôm đó... con làm người đi trốn. Bảo tìm con nên con chạy vào sâu trong bụi cỏ trốn ngay sau gốc cây to đùng ấy... Con buồn đi tè quá nên mới tè ở đấy ạ...
Nam nuốt nước bọt, hai mắt mở to ra sợ hãi. Nghe nó kể, chị Thu Hà hoàn toàn sững sờ. Hóa ra không phải ngẫu nhiên!
Chị Thu Hà không dám ở lại căn phòng trọ ngột ngạt thêm một giây nào nữa, vội vàng bế sốc bé Nam sang nhà bà Mùi. Nghe chị Thu Hà vừa khóc vừa thuật lại chuyện con trai lỡ tè bậy vào hốc đất và những biểu hiện lạ lùng của con mấy đêm qua, bà Mùi liền vuốt ngực thở dài, bảo nhỏ:
- Nó khuất mặt khuất mày lại chết oan chết uất như thế, lại bị thằng Nam mạo phạm nên mới quấy phá. Cô nghe tôi, chiều nay mua ngay ít hoa quả, giấy tiền vàng mã ra gốc cây đó mà thắp hương khấn vái xin lỗi người ta đi. Thưa là do trẻ con dại dột không biết gì, xin cô Thanh đại xá mà tha cho, có thế thì hồn vía nó mới bình an được!
Chị Thu Hà hỏi ra mới biết, cũng ngay trong buổi sáng hôm đó, chính bà Mùi là người đã lật đật sang nhà Khải dắt bé Bảo về phòng mình chăm sóc. Đứa trẻ tội nghiệp vừa thức dậy đã ngơ ngác khi thấy cha biến mất, còn xung quanh nhà mình thì bị giăng dây phong tỏa dày đặc.
Tại hiện trường, lực lượng điều tra khẩn trương trích xuất dữ liệu từ chiếc camera an ninh duy nhất của tiệm tạp hóa ngoài đầu hẻm. Kết quả cho thấy vào lúc 4 giờ sáng, Khải đã xách theo một chiếc túi vải nhỏ đi ra khỏi ngõ với dáng vẻ vô cùng vội vã. Chưa dừng lại ở đó, khi các điều tra viên truy quét ngược lại dữ liệu trước đây, họ phát hiện ra một sự thật: vào đêm muộn của một tuần trước, camera ghi lại cảnh Khải đang ra sức kéo lôi cô Thanh đi ngang qua cổng để vào nhà, dù suốt một tháng qua hắn luôn rêu rao với hàng xóm là vợ mình đã ôm tiền vàng bỏ đi biệt xứ. Khi đó miệng của cô Thanh bị dán chặt keo trong, tay thì bị trói rồi lôi đi.
Khi các chiến sĩ công an ngồi lại gặng hỏi bé Bảo để tìm thêm manh mối, đứa trẻ ngây thơ sụt sùi kể lại rằng:
- Hôm đó bố đưa mẹ về muộn lắm, nhưng bố bảo mẹ bị ốm nặng phải cách ly nên khóa chặt cửa phòng ngủ không cho con vào. Có mấy lần con nhớ mẹ quá, đứng trước cửa gọi vọng vào nhưng mẹ không trả lời, bên trong cứ im phăng phắc. Mỗi ngày bố vẫn tự tay nấu cơm để mở hé cửa mang vào cho mẹ, không cho ai vào. Nhưng được mấy hôm thì không thấy bố mang cơm vào nữa, bố bảo là mẹ đỡ ốm rồi nhưng mẹ lại ghét hai bố con nên ôm quần áo bỏ đi nữa rồi...
Lời khai của đứa trẻ khiến các điều tra viên lập tức nghi vấn. Họ tiến hành lật tung từng ngóc ngách trong căn nhà ba tầng và khoảng sân phía trước. Đến trưa cùng ngày, từ phía góc sân cạnh nơi phơi quần áo, lực lượng chức năng đã tìm thấy phần đầu còn thiếu của cơ thể nạn nhân được chôn giấu sơ xài trong một chiếc hộp nhựa. Lệnh truy nã khẩn cấp Khải lập tức được ban bố.
Sau khi theo lời bà Mùi ra gốc cây làm lễ cúng kiếng và tạ lỗi, tinh thần của bé Nam cũng dần ổn định trở lại. Thằng bé không còn nói mê, cũng không còn nhìn thấy cái bóng gãy cổ ngoài cửa sổ nữa. Thế nhưng cả xóm trọ Bãi Dâu giờ đây lại rơi vào một nỗi sợ hãi khác: họ lo sợ gã sát nhân biến thái sẽ đột ngột quay trở lại để trả thù những người đã tố giác.
Chị Thu Hà bị ám ảnh bởi đôi mắt lạnh lùng sau tròng kính của Khải, lúc nào chị cũng sống trong trạng thái cảnh giác lo sợ. Đi đâu làm gì, thậm chí là đi đổ rác chị cũng phải dắt thằng Nam đi theo, tuyệt đối không để con rời khỏi tầm mắt.
Chiều hôm đó, thằng Nam ngủ còn đang say. Thương con nên chị Thu Hà không gọi nó dậy đi cùng, chỉ tranh thủ ra chợ khu dân sinh ở đầu ngõ mua ít rau thịt cho bữa tối. Khi quay về, chị Thu Hà giật mình phát hiện ra cánh cửa gỗ phòng trọ chỉ khép hờ dù trước khi đi chị nhớ rõ mình đã bấm ổ khóa cẩn thận rồi. Một điềm báo chẳng lành dấy lên trong lồng ngực. Chị Thu Hà run rẩy đẩy cửa bước vào và suýt chút nữa thì ngã quỵ: thằng Nam đang bị Khải đè chặt xuống sàn, một tay gã bịt chặt miệng đứa trẻ, tay kia đang lăm lăm một con dao thái thịt sắc lẹm giơ lên cao.
Gã Khải nhã nhặn ngày nào giờ đây tóc tai bù xù, quần áo sộc xệch bám đầy bụi bẩn, đôi mắt đỏ ngầu sòng sọc đầy thú tính. Chị Thu Hà hét lên thất thanh, bản năng người mẹ lấn át cả nỗi sợ, chị lao tới chộp lấy cổ tay cầm dao của Khải. Hai bên xảy ra giằng co vô cùng kịch liệt. Khải khỏe hơn rất nhiều, hắn đẩy ngã chị Thu Hà xuống đất rồi chĩa mũi dao dốc thẳng về phía hai mẹ con, điên cuồng chất vấn, giọng khản đặc đầy căm hận:
- Là mày đúng không?! Chính mày đã mách với công an để bắt tao! Còn vợ tao là con điếm ăn cháo đá bát, tao dạy dỗ nó là việc của tao! Con mụ Mùi nhiều chuyện kia nữa, tụi mày hại tao thân bại danh liệt rồi! Hôm nay tao phải giết chết mẹ con mày, rồi tao sẽ cắt cổ con mụ già đó nữa! Tụi mày phải chết hết!
Chị Thu Hà không rõ vì sao Khải lại nghe ngóng được việc báo công an, nhưng cho dù chị và bà Mùi không chủ động cung cấp manh mối thì cơ quan chức năng vẫn có cách khác để xác định được danh tính nạn nhân và điều tra ra hung thủ mà thôi.
Ngay khi mũi dao của Khải chuẩn bị đâm xuống, cánh cửa phòng trọ bỗng nhiên bị một lực cực mạnh đạp tung ra:
- Công an đây! Mau bỏ dao xuống!
Thì ra công an đã âm thầm phục kích, cắm chốt 24/24 xung quanh xóm trọ Bãi Dâu để chờ gã sát nhân quay lại. Các chiến sĩ trinh sát ập vào như vũ bão, nhanh chóng khống chế và tước vũ khí của Khải trước sự chứng kiến trong nước mắt và sợ hãi của mẹ con chị Thu Hà.
Tại cơ quan điều tra, lớp mặt nạ tử tế của Khải cuối cùng cũng rơi xuống. Hắn thừa nhận đã lôi Thanh trở về sau lần cô bỏ trốn, giam vợ trong căn phòng tầng hai rồi trút lên cô tất cả sự giận dữ mà hắn gọi bằng hai chữ “dạy vợ”. Khi Thanh nằm bất động, Khải vẫn khóa cửa, thản nhiên đặt cơm bên trong như thể chỉ cần không nhìn thấy thì tội lỗi cũng không tồn tại. Đến lúc nhận ra vợ đã chết, điều đầu tiên hắn nghĩ tới không phải là cứu chữa hay thú tội, mà là làm thế nào để giữ nguyên danh tiếng của một người chồng mẫu mực.
Trong đêm, Khải đem thi thể Thanh ra khỏi căn phòng khóa kín, chia giấu ở nhiều chỗ để xóa dấu vết. Bảo tỉnh giấc vì nghe tiếng động trong nhà tắm, đứng ngoài cửa hỏi bố đang làm gì. Khải chỉ đáp rằng mình đang sơ chế thức ăn cho sáng hôm sau. Rạng sáng, hắn mang những túi đen ra vườn xà cừ, chọn đúng gốc cây có bộ rễ lớn nhất để chôn xuống. Hắn tin đất ẩm và cỏ lau sẽ giữ kín bí mật. Hắn không biết rằng có những thứ đất có thể che khỏi mắt người, nhưng không thể che khỏi mắt của kẻ chết oan.
Những ngày sau đó, Khải vẫn đi làm, vẫn chào hỏi hàng xóm và vẫn kể rằng vợ mình đã ôm tiền bỏ đi. Hắn giặt sạch chăn chiếu lúc trời chưa sáng, xịt đầy mùi thơm trong căn phòng tầng hai rồi khóa cửa. Cái túi tròn nặng mà Thu Hà nhìn thấy chính là phần cuối cùng Khải chưa kịp giấu cùng những thứ khác. Chiếc nhẫn cưới mắc lại dưới đất, con Mực đào lên, còn Nam vì vô tình mạo phạm nơi chôn giấu nên trở thành người nghe được tiếng gọi của Thanh.
Hồ sơ cũ và lời khai của người quen cũng trả lại cho Thanh phần sự thật mà khi sống cô chưa từng dám nói. Bảo ra đời từ một biến cố cô là nạn nhân. Vì sợ gia đình tan vỡ, cô đã im lặng chịu đựng, nhưng Khải lại biến nỗi đau ấy thành cái cớ để hành hạ cả hai mẹ con. Hắn hết đánh đập lại xin lỗi, hết dọa đuổi đi lại quỳ xuống hứa hẹn. Sự tử tế mà cả xóm nhìn thấy chỉ là chiếc áo khoác hắn mặc ngoài cửa. Sau cánh cửa đóng kín, Thanh đã sống nhiều năm trong sợ hãi, cho đến khi lần bỏ trốn cuối cùng cũng bị hắn chặn lại.
Khải phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Không ai trong xóm còn gọi việc hắn không làm hại Bảo là chút nhân tính cuối cùng, bởi đứa trẻ vốn không mắc nợ hắn điều gì. Tội lỗi không thể được giảm nhẹ chỉ vì kẻ gây tội đã chừa lại một người vô tội.
Sau lễ an táng của Thanh, bà Mùi dẫn Thu Hà và Nam trở lại gốc xà cừ. Họ đặt một bát cơm trắng, một chén nước, một chiếc lược gỗ và bó hoa cúc nhỏ dưới rễ cây. Thu Hà thắp ba nén nhang, thay con cúi đầu xin lỗi. Nam đứng nép sau lưng mẹ rất lâu rồi mới lấy từ túi áo ra một chiếc kẹp tóc màu xanh mà nó bảo đã nhặt thấy trong giấc mơ. Thằng bé đặt chiếc kẹp bên chén nước, lí nhí nói:
- Cô Thanh ơi, người ta đã biết tên cô rồi. Cô về với mẹ cô đi. Đừng nằm dưới đất lạnh nữa.
Không có cơn gió nào thổi qua, vậy mà ba làn khói nhang đang bay thẳng bỗng nghiêng cả về phía gốc cây. Từ sâu dưới lớp rễ vang lên một tiếng thở dài rất nhẹ. Chiếc lá xà cừ vàng úa rơi xuống mặt chén, nước trong chén gợn thành ba vòng rồi lặng hẳn. Nam ngẩng lên nhìn vào khoảng không trước mặt. Lần đầu tiên sau nhiều đêm, gương mặt thằng bé không còn sợ hãi.
Ít lâu sau, bà Mùi hoàn tất thủ tục chăm sóc Bảo. Căn nhà ba tầng bị niêm phong, đứa trẻ chuyển sang căn phòng nhỏ đầu ngõ. Người trong xóm cùng góp quần áo, sách vở, người cho cái bàn học, người sửa lại mái tôn. Không ai kể cho Bảo nghe những điều quá sức chịu đựng của một đứa trẻ. Họ chỉ nói mẹ em đã đi xa, nhưng tên của mẹ đã được trả lại và sẽ không còn ai được phép vu oan cho bà nữa.
Vườn xà cừ sau đó được phát quang. Chính quyền dựng một tấm bia nhỏ ghi tên người đã khuất ở mép vườn, còn gốc cây cũ được rào lại. Mùi hôi biến mất. Tiếng cào cửa sổ cũng không trở lại. Thu Hà tưởng mọi chuyện đã hoàn toàn kết thúc cho đến đêm trước ngày hai mẹ con chuyển sang một căn phòng sáng sủa hơn.
Gần mười một giờ, tiếng máy may vừa dừng thì rèm cửa khẽ lay. Ngoài sân, dưới ánh trăng nhợt nhạt, có một người phụ nữ mặc áo xanh đứng quay lưng về phía căn phòng. Cổ cô thẳng, mái tóc đã được chải gọn, dưới chân có một cái bóng mờ kéo dài trên nền gạch. Cô cúi đầu thật khẽ, rồi dắt theo một vệt sáng nhỏ đi về phía vườn xà cừ. Khi bóng dáng ấy tan vào sương, từ căn nhà bị niêm phong bên kia ngõ bỗng vang lên ba tiếng gõ khô khốc.
Nam đang ngủ chợt mở mắt, nhưng lần này nó chỉ kéo chăn lên rồi nói rất nhỏ:
- Cô ấy đi rồi mẹ. Ba tiếng kia không phải cô ấy gõ đâu.
Thu Hà không hỏi con vậy thì ai đang gõ. Chị tắt đèn, ôm Nam thật chặt. Ngoài ngõ, chó trong xóm đồng loạt quay mặt về căn nhà của Khải, gầm gừ cho đến sáng.
Người ta vẫn nói, oan hồn một khi đã được gọi đúng tên thì sẽ tìm thấy đường về. Nhưng nghiệp của kẻ gây tội, dù cửa nhà có khóa kín đến đâu, vẫn biết cách lần theo chủ nhân của nó.

Nhận xét
Đăng nhận xét