Con Gái Bỏ Đói Mẹ Già Đến Chết… Quan Tài Nặng Ngàn Cân Không Chịu Rời Nhà | Âm Dương Phủ

 [OAN BÁO MỘT ĐỜI]


Trong cõi nhân gian bao la trầm luân, tình sâu nghĩa nặng nhất chẳng gì bằng ơn sinh thành nuôi dưỡng của cha mẹ. Cha mẹ rút ruột rút gan, hi sinh cả đời vì con vì cháu, chẳng mong nhận lại điều gì to tát ngoài chút hiếu kính khi tuổi già sức yếu. Vậy mà lòng người ở đời, một khi đã bị sự tham lam, đố kỵ và tà niệm che mờ, thì tình thân máu mủ cũng coi chẳng bằng rác rưởi. Người xưa vẫn dạy rằng, đạo trời lồng lộng, gieo nhân nào thì gặt quả nấy; con cái đãi đùa, tàn nhẫn với cha mẹ ra sao thì nghiệp báo sau này sẽ trả về y như vậy, không chệch một ly, không sai một mốc. Ở xóm nhỏ bên bến sông thuộc vùng ven biển duyên hải, người ta vẫn truyền tai nhau câu chuyện oan khuất rùng rợn về bà Mẫn và đứa con gái tên Xuân – một câu chuyện đầy đau xót về tội nghiệp bất hiếu và cái giá đắt cay phải trả bằng chính máu, nước mắt và sự hoại tử đau đớn tột cùng.


Bà Mẫn năm nay đã bước sang tuổi bảy mươi. So với những bà cụ cùng tuổi bảy mươi khác trong xóm, trông bà già hơn, yếu hơn rất nhiều. Lưng bà đã còng gập xuống, da thịt teo hóp chỉ còn da bọc lấy xương, hai mắt đục ngầu vì sương gió cuộc đời. Nghe đâu ngày xưa bà Mẫn sinh được hai người con. Trước đây, bà sống cùng cậu con trai lớn tên là Vinh. Chẳng may số hiẻo, Vinh bị tai nạn lao động mất sớm trong một chuyến đi làm, bỏ lại người vợ trẻ tên Lan và hai đứa con trai nhỏ. Chị Lan là người phụ nữ hiền lành, cái tâm rất tốt và thương mẹ chồng hết mực. Hai mẹ con dâu cháu sống nương tựa vào nhau được chừng hơn ba năm thì chị Lan đi bước nữa, tái hôn với người khác. Chẳng muốn làm gánh nặng hay cản trở hạnh phúc mới của con dâu, bà Mẫn đành phải dọn dẹp ít đồ đạc hành lý, dọn sang sống cùng đứa con gái út tên là Xuân. Tính đến nay, bà dọn về ở với con Xuân cũng đã được hơn một năm trời.


Bà Mẫn tính tình ít nói, hiền lành và thương con dữ lắm. Nhưng trái ngược hoàn toàn với người mẹ tội nghiệp, con Xuân năm nay mới gần bốn mươi tuổi, tính tình chao chát, sắc sảo và nổi tiếng khắp cái xóm ven sông này vì cái mồm "loa phường" chua ngoa, vô lễ. Từ ngày bà Mẫn về ở cùng, nhờ cái mồm chớp chớp chửi đổng của con Xuân mà chuyện lớn chuyện nhỏ, chuyện riêng tư trong nhà thiên hạ xung quanh biết hết sạch. Mỗi lần con Xuân vắng nhà đi chợ hay đi lấy hàng, bà con xóm giềng thương tình lại gần hỏi thăm bà Mẫn xem con Xuân nó đối xử với bà ra sao, có thiếu thốn hay cần người ta giúp đỡ gì không. Nhưng lần nào cũng vậy, bà Mẫn chỉ cười trừ cay đắng cho qua chuyện, rồi lại rấn nước mắt bênh vực con gái: "Con gái tôi nó độc mồm độc miệng vậy thôi chứ cái tâm nó tốt lắm, nó thương mẹ nó lắm các bác ạ." 


Mọi người nghe xong chỉ biết thở dài lắc đầu xót xa. Bà cụ nhẫn nhịn, cam chịu chịu tủi chịu hờn vì không muốn con gái mình mang tiếng xấu với thiên hạ, chứ người dân ở cái xóm này còn lạ gì tính nết chao chát của con Xuân nữa. Trước khi bà Mẫn dọn về đây ở, nó đã làm trời làm đất ở cái xóm này, có coi ai ra gì đâu. Chuyện về cái sự hanh hao, mất dạy của nó thì có kể đến Tết cùng cô cũng chẳng thể nào hết được. Cứ thế ngày qua tháng lại, xóm giềng dù chướng mắt nhưng thấy bà Mẫn đã nhẫn nại chấp nhận như vậy nên người ta cũng kệ, chẳng ai dại tay đi lo chuyện bao đồng để rồi bị con Xuân nó xỉa xói vào mặt.


Bẵng đi một thời gian, lần đó là vào khoảng thời gian cuối năm, mùa mưa bão lại ập về. Thiên tai mỗi năm một khắc nghiệt, năm ấy chẳng hiểu sao bão lớn đổ bộ vào vùng duyên hải, mưa trút xuống kéo dài liên tục suốt ba đến bốn ngày trời không ngớt. Nước mưa cuồn cuộn nhiều đến mức gây ngập lụt diện rộng cả phố huyện. Học sinh, người lao động phải nghỉ làm nghỉ học để tập trung chống lũ. Nước sông dâng cao tràn ngập vào từng ngõ ngách, tràn vào tận trong nhà, cuốn trôi đi không biết bao nhiêu là tài sản, của cải của người dân. Đường xá, xe cộ chìm nghỉm trong biển nước đục ngầu, không ít người bị nước cuốn trôi mất tích chẳng biết sống chết ra sao.


Khu xóm nhỏ nơi bà Mẫn sinh sống cũng không ngoại lệ. Nước sông dâng cao hơn cả mét, nhà nhà chìm trong biển nước. May sao căn nhà của con Xuân nằm ở cuối xóm, trên một mảnh đất nhô gồ lên rất cao, do đó cả xóm chỉ có duy nhất căn nhà của nó là nước mưa không tràn được vào trong. Nước lụt dâng mãi không rút, điện nước sinh hoạt bị cắt sạch. Con Xuân thấy nhà mình sẵn mở tiệm bán tạp hóa nhỏ, bán nhu yếu phẩm cần thiết liền tranh thủ cơ hội. Cả xóm kéo nhau sang nhà nó mua mì tôm, nước sạch, lợi dụng điều đó, nó hét giá hàng hóa lên gấp đôi, gấp ba lần bình thường để bán kiếm lời. Ai mà có ý kiến hay phàn nàn là nó quắt mắt chửi thẳng mặt rồi đuổi về, không bán cho người đó nữa. Dân làng biết nó dối trá, mất dạy vậy đó nhưng cũng đành phải bấm bụng chịu đựng. Bởi vì trong xóm có tổng cộng ba nhà bán tạp hóa, thì hai nhà kia nước lụt tràn vào làm hư hỏng sạch sẽ hàng hóa, lấy đâu ra mì gói nước sạch mà bán. Không sang ngửa tay mua của con Xuân thì lấy gì mà bỏ vào miệng.


Sau khi trận lũ qua đi, thành phố và phố huyện chịu tổn thất nặng nề, dân đã khổ nay lại càng kiệt quệ hơn. Rất nhiều hộ kinh doanh trắng tay, rồi dịch sốt xuất huyết bùng phát hoành hành. Vì vậy mà các nhà tài trợ hảo tâm cùng Hội Chữ thập đỏ đã tổ chức mang gạo, muối và tiền mặt về phát trợ cấp để giúp đỡ phần nào cho người dân vùng lũ. Mỗi hộ gia đình được nhận một bao gạo 10kg, một thùng mì gói, dầu ăn và nước mắm. Riêng những hộ nào thuộc diện khó khăn đặc biệt hoặc bị tổn thất tài sản nghiêm trọng thì sẽ được hỗ trợ thêm tiền mặt. Cả xóm chỉ có mấy suất được hỗ trợ thêm tiền, trong đó có chủ của hai tiệm tạp hóa lớn kia vì hàng hóa bị ngập nước hư hỏng hoàn toàn.


Sáng hôm đó, người của Hội Chữ thập đỏ và đại diện Mạnh Thường Quân đến khu xóm tập trung phát quà. Con Xuân thấy hai nhà bán tạp hóa kia được nhận thêm phong bì tiền hỗ trợ, trong khi tiệm nhà nó không được đồng nào thì nổi máu tị ganh, đố kỵ làm ầm ĩ cả lên giữa sân làng. Nó gào lên kể nghèo kể khổ, vu cho cán bộ ăn xén ăn bớt tiền từ thiện của dân, bảo rằng cửa hàng nhà nó cũng bị hỏng cái này hỏng cái kia, tại sao lại không được tiền. Trong khi thực tế, nhà nó ở tít trên gò đất cao, nước mưa mới chỉ chạm tới chân cổng chứ chưa tràn vào nhà được một giọt nào. Mấy ngày trước người ta đã đi từng nhà khảo sát thực tế rõ ràng hết rồi. Mọi người xung quanh đứng nhìn chỉ trỏ, xỉa xói cái tính dối trá, tham lam của con Xuân khiến nó xấu hổ ê chề, tức tối ôm bao gạo đi thẳng về nhà.


Đến chiều hôm đó, con Xuân lại tiếp tục gào ầm lên, vác bao gạo mới nhận hồi sáng sang tận nhà ông trưởng thôn để chửi rủa. Nó vu khống rằng bao gạo từ thiện bị mốc bị hỏng làm bà Mẫn ăn vào bị ngộ độc, ói ra mật xanh mật đỏ phải đưa đi cấp cứu. Bác trưởng thôn rọc bao gạo ra xem thì đúng thật là gạo bên trong bị mốc đen hết cả. Nhưng khi hỏi các nhà khác xung quanh cùng nhận đợt đó thì ai cũng bảo gạo trắng ngon bình thường. Cùng một tổ với nhau mà chỉ duy nhất bao gạo nhà con Xuân bị mốc. Cuối cùng, đại diện đoàn từ thiện phải đến tận nhà xin lỗi con Xuân, đền cho nó bao gạo mới kèm phong bì tiền thuốc nom cho bà cụ Mẫn thì mới yên chuyện.


Sau đợt bị ngộ độc đó, sức khỏe bà Mẫn yếu đi hẳn. Bệnh vặt đau ốm liên miên, trái gió trở trời một tí là lại nằm bẹp. Cơ thể bà cứ mỗi ngày một gầy gộc, ốm o chỉ còn da bọc xương.


Khoảng hai tháng sau, vào một buổi trưa mưa gió ầm ầm, anh Nam và chị Thủy nhà kế bên đang ngồi ăn cơm trưa thì nghe thấy tiếng gõ cửa lạch cạch đằng sau bếp. Anh Nam thấy lạ vì bình thường không ai gõ cửa sau bao giờ. Sau nhà anh Nam là một khoảng sân nhỏ bọc lưới nhựa để chị Thủy nuôi mấy con gà mái tơ. Anh Nam đi ra mở cửa xem là ai thì bàng hoàng thấy bà Mẫn đang đội chiếc nón lá rách tươm, đứng co ro dưới trời mưa gió. Anh Nam lo lắng hỏi:

"Trời đất ơi! Mưa to gió lớn thế này mà bà đi đâu vậy ạ? Con mời bà vào nhà chứ ướt hết người rồi!"

Bà Mẫn ngập ngừng, ái ngại bảo: "Thôi, đi vào nhà bẩn nhà mất công các con ạ. Bà đứng ngoài này được rồi."

Chị Thủy từ trong bếp nhìn ra thấy bà Mẫn ướt sũng cũng nói vọng ra mời bà vào nhà. Vào nhà ngồi nghỉ, chị Thủy chú ý thấy mắt bà Mẫn cứ nhìn chằm chằm vào mâm cơm hai vợ chồng đang ăn dở rồi vô thức nuốt nước bọt. Chị Thủy hiểu ý liền mời khéo:

"Bà ăn cơm chưa ạ? Hôm nay nhà con nấu nhiều cơm lắm, con mời bà ngồi xuống ăn chung với vợ chồng con cho vui!"

Bà Mẫn ái ngại từ chối, nhưng vợ chồng anh Nam chị Thủy năn nỉ, mời nhiệt tình quá nên bà mới chịu ăn. Mà bà ăn khép lép, chẳng dám gắp thức ăn nhiều, chỉ ăn đúng nửa bát cơm trắng rồi thôi. Ăn xong, bà Mẫn cảm ơn rồi đội chiếc nón rách đi ra cửa sau. Mưa gió vậy mà bà nhất quyết không chịu mặc áo mưa chị Thủy đưa, bảo nhà ngay cạnh đi tí là tới. Bà Mẫn đi đến chỗ hàng rào lưới, giở lưới lên rồi khó khăn chui rúc sang bên nhà mình, sau đó cẩn thận lấy mấy viên gạch chặn chân lưới lại cho gà khỏi chui ra. Nhìn bóng lưng còng khom khom của bà cụ ốm yếu lê từng bước trong mưa, chui rúc qua hàng rào, vợ chồng anh Nam chị Thủy nhìn theo mà xót xa vô cùng.


Chừng ba bốn ngày sau, lại vào một buổi trưa, hôm đó anh Nam về muộn nên chị Thủy ngồi đợi cơm. Đang ngồi trong bếp, chị Thủy nghe có tiếng động lục đục phát ra ở sau vườn gà. Nghĩ mấy con gà phá phách, chị ghé mắt nhìn qua lỗ thủng ở cửa thì bất ngờ thấy bà Mẫn đang đứng trốn bên ngoài chuồng gà, tay cầm một cái bát con ăn cơm, cứ giơ tay định gõ cửa rồi lại e ngại hạ xuống. Chị Thủy vội mở cửa ra dìu bà vào nhà. Bà Mẫn tủi thân, rấn nước mắt nghẹn ngào:

"Con... cho bà xin bát cơm trắng với. Con Xuân nó cho bà ăn ngày có một hai bữa thôi. Nó bảo là nhà hết gạo rồi mà bà đói quá... Con đừng nói với con Xuân là bà sang nhà con xin cơm nhé, cũng đừng kể với ai. Nó mà biết là nó chửi bà, nó mắng lây cả vợ chồng con nữa đấy..."

Chị Thủy nghe mà ruột gan đau như cắt:

"Trời ơi bà ơi! Sao chị Xuân lại kỳ cục thế?! Nhà bán tạp hóa mà lại bảo hết gạo là sao? Không có gạo thì cũng có mì gói, bánh sữa chứ! Bát cơm bé tẹo thế này làm sao bà ăn đủ no được? Hay là thế này, từ trưa mai bà cứ sang ăn cơm với vợ chồng con, nhà con ăn gì bà ăn nấy cho vui!"

"Không được đâu con ơi! Con Xuân mà không thấy bà ở nhà là nó sang đây làm ầm ĩ lên ngay. Với cả bà già rồi, ăn gì nhiều đâu, ăn qua bữa là được rồi con ạ..."

Chị Thủy xót xa dặn: "Thế từ trưa mai, bà sang thì cứ gõ cửa sau ba cái cho con biết con mang cơm ra. Bà mang cái bát to hơn sang con bới cho đầy. Cơm trắng nhà con nhiều lắm, có rau ăn rau có mắm ăn mắm, bà đừng có ngại."


Kể từ hôm đó, cứ giữa trưa là bà Mẫn lại cầm bát lén sang gõ cửa sau xin cơm. Bà không dám mang cơm về nhà, cứ đứng nấp sau chuồng gà ăn vội ăn vàng, vừa ăn vừa nơm nớp nhìn sang bên nhà xem con Xuân có gọi không. Có hôm đang ăn dở, nghe tiếng con Xuân gọi vả ra là bà phải vội vàng bỏ tô cơm xuống, lén lút chui rào đi về vì sợ con gái phát hiện.


Nhưng rồi việc gì đến cũng phải đến. Tầm một tháng sau, con Xuân phát hiện ra chuyện chị Thủy cho mẹ mình ăn cơm. Nó đứng ngay bên sân nhà mình cố tình chửi đổng thật lớn tiếng dằn mặt chị Thủy:

"Bà sang nhà con Hồng xin cơm là cái kiểu gì đấy?! Bà cố tình làm thế để người ta bêu rếu tôi là con cái bất hiếu để mẹ chết đói phải ra đường xin ăn người dưng đúng không?! Còn cái con Hồng kia nữa, tốt đẹp cái trò gì! Suốt ngày ở nhà ăn bám há miệng đợi chồng nuôi, mày với đĩ thì khác quái gì nhau!"

Bà Mẫn uất nghẹn lên tiếng: "Mày nói năng cái gì mà kỳ cục thế Xuân! Vợ chồng con Hồng nó tốt bụng hiền lành mày lại đi chửi người ta đĩ bợm. Mày không thích thì thôi tao không sang đấy nữa!"

Con Xuân quắt mắt chỉ thẳng mặt mẹ: "Bà nhớ lấy nhé! Tôi mà thấy bà vác mặt sang đấy nữa thì bà biết tay tôi! Đã ăn nhờ ở đậu nhà con gái mà không biết điều, vớ vẩn tôi tống cổ bà ra đường mà ở! Nghe rõ chưa?!"


Từng câu từng chữ nghiệt ách mà con Xuân chửi rủa ở bên đây vợ chồng chị Thủy nghe được hết. Từ sau hôm đó, bà Mẫn không còn dám sang nhà xin cơm nữa. Chỉ có hôm nào con Xuân đi lấy hàng hay đi chợ vắng nhà, chị Thủy mới dám lén đứng ở sau vườn gọi bà Mẫn ra cho cái bánh, gói xôi.


Bà Mẫn cố gắng chịu đựng tủi hờn vì dù sao bà cũng là mẹ. Nó có đối xử với bà ra sao bà cũng không kể khổ với ai vì sợ người đời khinh miệt con gái mình. Bà bảo trần đời chỉ có con cái nuôi lớn khôn rồi bỏ cha bỏ mẹ, chứ chưa thấy cha mẹ nào bỏ con bao giờ. Mẹ chị Thủy mất vì ung thư vú cách đây hơn chục năm, nhìn cảnh bà Mẫn mà chị thương như mẹ ruột. Thấy chị Thủy tốt bụng, bà Mẫn mới rưng rưng nước mắt tâm sự những chuyện tủi đắng trong nhà. Bà kể bà bị đau sống lưng xin tiền con Xuân mua thuốc mà nó nhất quyết không cho, lại còn chửi bà "chết quách đi sống tốn cơm tốn tiền chẳng được tích sự gì". Ăn cơm thì cả nhà con Xuân ngồi trên bàn cao ăn đồ ngon, còn bà Mẫn phải trải cái chiếu ngồi dưới đất ăn cơm riêng với thức ăn cũ ôi thiu từ hôm qua để lại. Bà bị bệnh khớp nặng, ngồi xuống đất đã khó, lúc đứng lên càng đau đớn nhưng chẳng một ai đỡ đần. Bảy mươi tuổi đầu đi lại khó khăn bà vẫn phải làm việc nhà từ rửa bát, cắm cơm, quét nhà, giặt quần áo. Trong khi con Xuân ngồi không đung đưa chân xem điện thoại, đánh lô đề, bài bạc.


Bà Mẫn già rồi, tay chân run rẩy, rửa bát nhỡ tay làm vỡ cái bát là bị con Xuân chửi mắng như con sen người ở. Đêm đến bà ngủ bị khó thở, đờm vướng ở họng phát ra tiếng ngáy khè khè. Có hôm giữa đêm, con Xuân bưng cả thau nước tạt thẳng vào mặt mẹ gào lên: "Ăn cho lắm vào rồi ngủ ngáy như lợn, làm ai cũng không ngủ được!". 


Chồng con Xuân tên Định, làm nghề lái xe tải Bắc Nam đi suốt. Bữa nào Định về thì Xuân mới nấu nướng bài bản tươm tấp, bà Mẫn mới được bữa cơm tử tế. Còn bình thường nó nấu ăn qua loa, đồ ngon cho con nó, đồ cũ đồ thừa tống hết cho bà Mẫn. Mẹ đẻ mà con gái không coi ra gì nên con rể và đứa cháu ngoại học lớp bảy cũng khinh miệt bà Mẫn. Đi về thấy bà không thèm thưa hỏi, thậm chí đứa cháu còn lườm quýt, chửi đổng. Bà Mẫn vốn ăn chay trường mỗi tháng 10 ngày, nhưng con Xuân không bao giờ nấu đồ ăn chay. Thành ra ngày ăn chay bà Mẫn toàn phải nhịn đói, sau sức yếu quá bà đành giảm xuống 4 ngày giữ giới nhịn ăn.


Tầm hơn một tháng sau, nghe đâu bà Mẫn bị ốm cảm sốt nằm liệt giường. Kỳ lạ là vợ chồng con Xuân cứ để bà nằm mê man vậy chứ không đưa đi bệnh viện khám. Hàng xóm sang thăm thấy bà nằm lúc tỉnh lúc mê liền khuyên đưa đi bệnh viện, nhưng con Xuân gạt đi: "Bệnh người già bình thường thôi, cho uống thuốc là khỏi. Đưa đi viện bác sĩ cũng phát mấy túp thuốc rồi cho về, ở nhà uống thuốc cho khỏe chứ lên viện mất công tốn tiền!".


Bà Mẫn nằm liệt giường, đi tiêu đi tiểu một chỗ mà con Xuân nhất quyết không chịu tắm rửa, thay quần áo cho mẹ, để người bà bốc mùi hôi thối nồng nặc. Cửa phòng bà luôn bị đóng kín. Thằng con trai học lớp bảy của con Xuân đi học về, đi qua phòng nhìn thấy bà ngoại liền bịt mũi nhăn nhó gào lên với mẹ:

"Bà chưa chết nữa hả mẹ?! Nằm một đống gớm tiếc, hôi rình thối ầm cả cái nhà ra! Chết lẹ đi cho rồi! Bà cứ nằm như thế nhà cửa không quét, chén bát không rửa, đái một chỗ dơ dáy ai mà hầu cho được! Trông cho bà chết quách cho xong!"


Chị Thủy vừa bước sang đến cửa nghe thấy trọn vẹn những lời mất dạy đó. Không chịu nổi nữa, chị Thủy xông vào phòng chỉ thẳng mặt con Xuân phẫn uất:

"Chị ăn nói cái kiểu gì đấy?! Bà là mẹ ruột chị chứ có phải người dưng đâu! Chị đối xử với mẹ chị như thế còn để con cái ăn nói mất dạy tàn nhẫn vậy à?! Nó bé không biết thì chị phải dạy, đằng này chị hùa theo. Sau này thằng cu lớn lên nó cũng đối xử với chị chẳng ra cái gì đâu!"

Con Xuân cong tợn chửi mắng: "Con này! Mày đứng nghe lén mẹ con tao từ bao giờ đấy?! Ai cho mày vào nhà tao?! Mày bảo ai mất dạy? Cút ngay khỏi nhà tao! Từ giờ cấm mày sang đây. Đúng là cái loại lắm mồm lo chuyện bao đồng, về mà hầu thằng chồng mày rồi nó bố thí cho vài đồng mà tiêu!"

Hai bên xảy ra tranh cãi dữ dội, chị Thủy tức giận bỏ về và từ đó không sang nữa.


Chỉ một thời gian ngắn sau, bà Mẫn đột ngột qua đời. Vợ chồng con Xuân khóc lóc kể rằng bà bị cảm sốt hơn hai tuần rồi nhắm mắt xuôi tay. Sáng ra thấy người bà đã đông cứng, máu tươi trong lỗ tai và lỗ mũi chảy ra lênh láng ướt đẫm cả gối. Con Xuân bảo nghi ngờ bà bị đột quỵ. Hàng xóm nghi ngờ vì chết đột quỵ không ai chảy máu tai máu mũi nhiều như thế, nhưng người chết không đối chứng nên đành chịu. Lúc khâm liệm cởi quần áo bà Mẫn ra thì phát hiện trên đầu bà có một cục u sưng rất to. Hỏi con Xuân thì nó bảo chắc bà ngủ đập đầu vào cạnh giường.


Gia đình dựng rạp làm đám tang, thầy cúng bảo 4 ngày nữa mới được hạ huyệt. Bà Mẫn vốn là Phật tử nhưng con Xuân tiếc tiền không mời sư thầy tụng kinh cầu siêu, chỉ kê bàn thờ tạm. Hàng xóm kéo sang phụ giúp, có cả vợ chồng chị Thủy. Đến lúc con Xuân thắp nhang cắm lên bàn thờ mẹ thì tự dưng cây nhang đang cháy bỗng tắt ngúm. Nó đốt lại liên tiếp 4-5 lần, cứ đưa tay cắm vào bát hương là nhang lại tắt trụi dù không có gió. Thấy bất thường, Định (chồng Xuân) vào thắp thay vợ nhưng nhang cũng tắt ngúm 5 lần 7 lượt. Đứa con trai vào thắp nhang cũng không cháy. Nó đổ cho nhang dởm nhưng khi người hàng xóm lấy cây nhang đó đốt cắm lên thì nhang lại cháy bình thường. Mọi người rùng mình biết đây là dấu hiệu tâm linh do bà Mẫn hiển linh.


Lúc này, chị Lan (con dâu cũ) cùng hai đứa con trai về dự tang lễ. Ba mẹ con khóc thương bà Mẫn quá trời, ai nhìn vào cũng ngỡ chị Lan mới là con gái ruột. Trong khi đó, gia đình con Xuân đứng trơ trơ không rơi giọt nước mắt nào, thậm chí con Xuân còn cười ha hả nói chuyện phiếm. Qua ngày thứ hai, con Xuân tiếc tiền không chịu đãi cơm nước cho hàng xóm sang trực tang giúp. Cuối cùng chị Lan phải đứng ra bỏ tiền túi lo cơm nước chè thuốc cho mọi người.


Đêm đó, vợ chồng con Xuân trải chiếu nằm ngủ bên cạnh quan tài bà Mẫn. Nửa đêm, con Xuân giật mình tỉnh giấc bởi những tiếng lục đục rùng rợn phát ra từ bên trong quan tài. Ban đầu là tiếng như xác chết cựa quậy, rồi chuyển thành tiếng cào cấu sột soạt vào gỗ, tiếp đó là tiếng gõ "cộc... cộc... cộc..." vang lên rõ mồn một. Mặt con Xuân tái mét, hoảng sợ tưởng mẹ sống lại. Nó lay Định dậy nhưng Định ngủ say. Khi Định tỉnh dậy, tiếng gõ vẫn vang lên nhưng Định gạt đi bảo tiếng thạch sùng chạy trên nóc nhà rồi xoay lưng ngủ tiếp. Điều đáng sợ là chỉ một mình con Xuân nghe thấy tiếng cào gõ đó. Nó hoảng loạn trùm chăn kín đầu run rẩy cả đêm.


Đến giữa trưa ngày thứ ba, đứa con trai của Xuân đang nằm nghỉ trưa bỗng bật dậy gào thét hốt hoảng, tay chỉ thẳng vào quan tài:

"Dậy đi mẹ ơi! Bà ngoại kìa! Bà ngoại chưa chết sao làm đám tang chi vậy?! Bà đang đứng trên nắp quan tài nhảy cả tưng cả tưng khỏe như trâu kìa mẹ!"

Mọi người chạy vào hỏi thì đứa bé khẳng định nhìn thấy bà ngoại đứng trên nắp quan tài đi tới đi lui, nhảy lên nhảy xuống như khỉ. Ai nghe xong cũng mặt cắt không còn một giọt máu. Vợ chồng Xuân Định nhìn nhau sợ hãi.


Ngày thứ tư là ngày di quan. Theo tục lệ địa phương, gia đình cúng tam sên xin đường và cúng thổ thần. Khi quan tài được nâng lên, Định ở trong nhà đập mạnh chiếc nồi đất nung xuống sàn tạo tiếng nổ lớn để xua đuổi tà ma. Theo tục lệ, con Xuân phải nằm sấp dưới đất để người ta khiêng quan tài bước qua người nó, bò nối tiếp từ trong nhà ra tới xe rồng.


Lúc khiêng quan tài ra khỏi nhà thì bình thường, nhưng đúng lúc mười mấy thanh niên khiêng quan tài bước đè lên người con Xuân thì tự nhiên chiếc quan tài nặng trịch như khối chì hàng tấn. Cả chục thanh niên lực lưỡng gồng mình run rẩy, chân khuỵu xuống không thể lê nổi một bước. Ba bốn người khác nhào vào gánh giúp nhưng quan tài vẫn bất động. Con Xuân hoảng sợ sợ quan tài rơi đè chết liền lẹ lẹ bò chui ra ngoài. Ngay khi Xuân vừa bò ra, chiếc quan tài lập tức nhẹ trở lại và được đặt lùi về chỗ cũ.


Cùng lúc đó, một mùi hôi thối nồng nặc như mùi cá ươn, mùi chuột chết hoại tử bốc ra từ chiếc quan tài khiến mọi người xung quanh ôm cổ nôn thốc nôn tháo, dạt ra xa. Quan tài chứa bà cụ gầy gò chưa đầy 40kg mà làm mười mấy thanh niên mồ hôi nhễ nhại. Lễ di quan bị hoãn lại, đã 8 giờ rưỡi sáng mà 10 giờ phải hạ huyệt, trong khi từ nhà ra nghĩa trang tận mười mấy cây số.


Đúng lúc ấy, ông Chín – một cao niên am hiểu cúng lễ trong làng – bước ra nghiêm mặt chỉ vào mặt con Xuân:

"Yến! Mày đã làm cái gì không phải với bà Mẫn thì khai ra mau! Tao nhìn là tao biết bà uất ức không chịu đi nên mới làm ra thế này. Mày phải quỳ xuống xin lỗi tha tội thì may ra bà mới chịu đi, chứ hạ huyệt sai giờ xấu thì đời vợ chồng mày sau này khó sống lắm!"


Lúc đầu Xuân chối đay đả, nhưng trước sự ép buộc của ông Chín và dân làng, Xuân mới bật khóc thú nhận sự thật kinh hoàng: Mấy tháng trước, nó lén lấy tiền làm ăn của Định đi đánh số đề thua sạch. Đến lúc Định đòi tiền, Xuân túng quẫn đi vay mượn khắp nơi vẫn thiếu mấy triệu. Thấy bà Mẫn đeo đôi bông tai vàng – kỷ vật hồi môn của bà ngoại để lại – Xuân đòi lấy đi bán nhưng bà Mẫn không cho. Xuân xông vào giằng co tháo bông tai. Đúng lúc Định đi làm về thấy thế liền xông vào hỗ trợ vợ, đè ghì bà Mẫn xuống. Định nắm tóc bà Mẫn đập mạnh đầu bà vào tường làm bà ngất xỉu ngay tại chỗ, nổi một cục u lớn. 


Sợ bà Mẫn tỉnh lại đòi bông tai và sợ đi viện bác sĩ phát hiện ra vết thương do bị đánh, vợ chồng Xuân giấu bặt chuyện, tự mua thuốc về cho bà uống. Bà Mẫn nằm mê man liệt giường suốt hai tuần rồi đột ngột qua đời.



Nghe đến đây, chị Thủy phẫn uất kể lại toàn bộ sự thật việc bà Mẫn bị bỏ đói, bị tạt nước, bị chửi rủa cho toàn thể dân làng nghe. Mọi người ồ lên uất hận. Chị Lan (con dâu cũ) không kiềm chế nổi bước tới tát một cú trời giáng vào mặt con Xuân, gào lên trong nước mắt:

"Sao mày ác thế hả Xuân?! Mẹ thương mày biết bao nhiêu sao mày đối xử với mẹ như thế?!"

Con Xuân ôm mặt bật lại: "Mày là cái thứ gì mà đòi dạy đời tao! Bà ấy thương gì tao, bà ấy chỉ thương thằng Vinh thôi! Lúc thằng Vinh còn sống bà ấy một hai đi theo nó, còn tao như người dưng! Đến khi thằng Vinh chết bà ấy mới mò về báo đời tao!"

Chị Lan thét lên: "Mày có còn là người không Xuân?! Mẹ không thương mày thì cái nhà mày đang ở từ đâu mà có?! Không phải mẹ bán hết đất đai nhà cửa ở quê đưa tiền cho mày làm nhà à?! Anh Vinh chết đi vẫn còn nợ ngân hàng tiền nhà chưa trả xong! Mày cờ bạc nợ nần, mẹ bán hết sạch vàng bạc đưa cho mày trả nợ! Đôi bông tai là kỷ vật duy nhất mẹ giữ lại, vậy mà vợ chồng mày nỡ tay sát hại mẹ! Mày tồi tệ, mày khốn nạn quá Xuân ơi!"

Con Xuân ngơ ngác: "Sao... sao tao không biết? Tao tưởng mẹ có sẵn tiền chứ..."


Thời gian không còn nhiều, ông Chín ngắt lời giục giã. Chị Lan cùng hai đứa con quỳ xuống trước linh cữu bà Mẫn khóc lóc cầu xin bà xá tội cho kẻ bất hiếu để được thanh thản ra đi. Con Xuân cũng sợ hãi quỳ dập đầu tạ tội trước linh cữu mẹ. Kỳ diệu thay, sau khi con cháu quỳ lạy xin lỗi, mùi hôi thối nồng nặc bỗng nhiên tan biến sạch sẽ. Mười mấy thanh niên nâng quan tài lên nhẹ nhàng, khiêng thẳng ra xe rồng chôn cất.


Sau tang lễ, con Xuân chẳng hề có một chút hối cải. Mẹ mới mất được một tuần, nó đã lấy tiền phúng điếu mua đồ ăn nhậu đàn đúm, mở loa hát karaoke inh ỏi cả ngày đêm như hội chợ. Hàng xóm quở trách nó mặc kệ.


Tuy nhiên, khoảng một tháng sau, căn nhà con Xuân bỗng xảy ra chuyện lạ. Xuân thay tính đổi nết, trở nên ít nói, suốt ngày ru rú trong nhà không dám bước chân ra đường. Hàng hóa bán hết nó cũng không đi nhập thêm. Trong nhà, nó mở kinh Phật phát 24/24 và dán bùa trừ tà khắp các cửa, không khí trong nhà âm u, ma mị đến ghê người.


Hơn một năm sau, vợ chồng Xuân Định xảy ra xung đột dữ dội. Định trong cơn cuồng nộ đã đập phá toàn bộ đồ đạc, đốt cháy hai chiếc xe máy rồi đánh đập con Xuân te tua tơi tả. Hai người đâm đơn ly dị, Định giành quyền nuôi đứa con trai. Nhờ căn nhà đứng tên tài sản trước hôn nhân của Xuân nên nó giữ lại được nhà, từ đó sống thui thủi một mình không chồng không con.


Vài năm sau, Xuân phát hiện mình bị ung thư vú giai đoạn cuối. Căn bệnh quái ác hành hạ khiến hai bên ngực nó lở loét, hoại tử bốc mùi hôi thối nồng nặc hệt như cái mùi hôi bốc ra từ chiếc quan tài của bà Mẫn năm xưa. Không có người thân chăm sóc, đứa con trai cưng ngày nào nay đã vào đại học nhưng học theo thói bất hiếu của mẹ, nó chê mẹ nhếch nhác bẩn thỉu nên cả năm trời chỉ tắp mặt vào thăm mẹ đếm trên đầu ngón tay.


Để lấy tiền điều trị, Xuân đành phải bán đi căn nhà duy nhất – tài sản mà năm xưa bà Mẫn đã bán đất quê dựng lên cho nó. Toàn bộ tiền bán nhà Xuân giao hết cho đứa con trai quản lý để đóng viện phí. Ai ngờ, đứa con trời đánh ấy ôm trọn số tiền dưỡng mạng của mẹ đi cá độ bóng đá, thua sạch bách rồi bị công an bắt giam vào tù.


Xuân lúc này hơn 50 tuổi, không còn một đồng đóng viện phí nên bị bệnh viện trả về. Những ngày cuối đời, Xuân nằm còng queo một mình trong căn phòng trọ mục nát, thân thể bị ung thư hoại tử lở loét đau đớn đến tận xương tủy. Mùi thịt thối bốc lên nồng nặc mà không một ai bên cạnh. Trong cơn đau đớn tột cùng và cô độc quạnh quẽ, Xuân chỉ biết gào khóc xin lỗi người mẹ đã khuất trong vô vọng rồi trút hơi thở cuối cùng.


---

Quy luật nhân quả ở đời vốn dĩ sòng phẳng và vô cùng nghiêm minh. Đạo làm con, chữ Hiếu đứng đầu trong muôn vàn hạnh lành. Kẻ nào biết kính trên nhường dưới, phụng dưỡng cha mẹ thì tích phước muôn đời; còn kẻ nào gieo tâm ác, tàn nhẫn bạc đãi đấng sinh thành thì nghiệp báo sẽ giăng lối ngay trong kiếp sống này, không đợi đến kiếp sau.


Con cái chính là tấm gương phản chiếu chính xác nhất hành vi của cha mẹ. Xuân đối xử tàn nhẫn, bất hiếu với bà Mẫn bao nhiêu thì cuối cùng, đứa con trai mà nó đẻ ra lại nhân bản sự tàn nhẫn và lạnh lùng đó lên gấp bội phần. Đó không phải là ngẫu nhiên, mà chính là cái giá đắt cay phải trả cho hạt giống nghiệp ác đã tự tay gieo trồng. Mong rằng qua câu chuyện này, mỗi người trong chúng ta biết trân trọng, yêu thương và phụng dưỡng cha mẹ khi còn tại thế, đừng để đến khi nhắm mắt xuôi tay mới giật mình hối hận thì nghiệp quả đã giăng đầy, có sám hối cũng đã quá muộn màng.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

🎙️ TRỢ LÝ TRUYỆN AUDIO

Chương 1 - Phần 1: Cả Tông Môn Khinh Ta Là Linh Nông - Nào Ngờ Ta Trồng Ruộng Thành Tiên